Chi tiết tin tức Đời sống tăng đoàn ở Nalanda Thế kỉ 7: Cách chào, vái - lễ lạy Phật (ghi chép của Pháp sư Nghĩa Tịnh) 15:54:00 - 09/08/2026
(PGNĐ) - Chương 17 cho ta thấy quy luật rất nghiêm túc trong đời sống tăng đoàn vào TK 7 ở Nalanda. Điều này là cần thiết cho một cộng đồng đông người chung đụng hàng ngày...
Phần này bàn về chương 17 trong cuốn Nam Hải Kí Quy Nội Pháp Truyện của pháp sư Nghĩa Tịnh. Chương/điều khoản 17 "Chào nhau sao cho hợp thời", phần này chỉ có 244 chữ Hán không kể 4 chữ tựa đề, khi tạm dịch ra tiếng Việt hiện đại thì phải dùng khoảng 356 chữ quốc ngữ không kể 6 chữ tựa đề. Khi dịch ra tiếng Việt hiện đại[ii] cho tạm thời rõ nghĩa thì cần khoảng 362 chữ (xem phần sau) hay số chữ tiếng Việt dùng tăng 46% so với nguyên bản Hán văn. Cần thận trọng khi đọc các tài liệu cổ đại vì Hán văn vào thời trung cổ có khác hơn ngày nay: có lúc ý nghĩa không rõ ràng hay tối nghĩa, không như ý của tác giả, dẫn đến cách hiểu khác nhau; hay có chữ hiếm không còn dùng nữa - td. chữ 迮 bộ sước 辶 đọc là trách/sách (xem phần sau). Có khi một nét nghĩa cổ không còn hiện diện nữa như xúc 觸 từng hàm ý ô uế, dơ bẩn từng được Tăng Vận ghi lại nhưng không thấy nét nghĩa này trong một tự điển Hán Việt nào. Chưa kể đến những trường hợp tác giả dịch nhầm hay tam sao thất bản ...v.v... Các chữ viết tắt trong bài là NCT (Nguyễn Cung Thông), PG (Phật giáo), HV (Hán Việt), VN (Việt Nam), A (tiếng Anh), P (tiếng Pháp), NHKQNPT (Nam Hải Kí Quy Nội Pháp Truyện). 1. Pháp sư Nghĩa Tịnh và Nam Hải Kí Quy Nội Pháp TruyệnPháp sư Nghĩa Tịnh 義淨, tên tục là Trương Văn Minh 张文明, sinh năm 635 ở Tế Châu (Sơn Đông, Trung Quốc) và xuất gia năm 14 tuổi. Ngài đã nghe tiếng thiền sư Pháp Hiển và Huyền Trang hành hương xứ Phật, nên nhất định theo đuổi ý định này để tìm hiểu Phật pháp thấu đáo hơn. Tới năm 37 tuổi, ngài mới có cơ hội đi tàu Ba Tư[iii] từ Quảng Châu (Trung Quốc) qua Srivijaya, bây giờ là Palembang ở Sumatra, từng là một trung tâm Phật giáo lớn trong vùng Đông Nam Á vào thời trung cổ; ở đây 6 tháng học tiếng Phạn và tiếng Mã Lai, sau đó đi tàu sang Ấn Độ. Sau khi đậu ‘kì thi nhập học’ rất cam go, ngài được nhận vào chùa[iv] (tu viện, tự viện) Nalanda với 12 năm tu học, so với 25 năm sống ở hải ngoại và thăm viếng được hơn 30 quốc gia. Ngài đem về nước khoảng 400 bộ kinh luận tiếng Phạn, cùng khoảng 300 viên ngọc xá lợi. Cho đến cuối đời vào năm 713, ngài luôn chăm chú dịch kinh từ tiếng Phạn (được hơn 50 bộ kinh). Một số tác phẩm nổi tiếng của Nghĩa Tịnh là Đại Đường Tây Vực Cầu Pháp Cao Tăng Truyện, Trọng Quy Nam Hải Truyện, Nam Hải Kí Quy Nội Pháp Truyện, Phạn Ngữ Thiên Tự Văn 梵語千字文 còn gọi là Phạm Đường Thiên Tự Văn, Đường Tự Thiên Man Thánh Ngữ 梵唐千字文, 唐字千鬘聖語 ... Mặc dù là người sau cùng trong ba cao tăng nổi tiếng qua Ấn Độ du học thời trung cổ - td.pháp sự Pháp Hiển, Huyền Trang - nhưng Nghĩa Tịnh lại ở ngoại quốc lâu nhất và dĩ nhiên giao lưu với các văn hóa/ngôn ngữ nước ngoài sâu đậm hơn, do đó các ghi chép và phê bình của ngài rất đáng được lưu ý. Đặc biệt là cách phân tích ngữ nghĩa của Nghĩa Tịnh, dựa vào phiên thiết (Hứa Thận, Thuyết Văn Giải Tự) và tiếng Phạn và tiếng địa phương, cũng như từ góc nhìn thời gian (xưa và nay/TK 7) và không gian (đất Phật/Ấn Độ so với các nước có đạo Phật). Khác với các nhà sư thời trước như Pháp Hiển, Huyền Trang: trong các tác phẩm cùa mình, pháp sư Nghĩa Tịnh không ngần ngại vạch ra các điều không đúng hay tiêu cực trong tập tục của ‘Phật giáo nước nhà’ (Trung Hoa) trong khi so sánh, dù có thể không làm ' hài lòng' người đọc; td. phần cuối của chương 9 Thụ trai quỹ tắc (lề luật về ăn chay), Nghĩa Tịnh đã bọc lộ một góc nhìn đáng chú ý - phỏng dịch/NCT: " … Tôi đã ghi lại các lề luật đúng đắn và thí dụ thực tế của các vị tiền bối (hàm ý các giới luật rất nghiêm túc từ Phật giáo nguyên thủy/NCT); tất cả đều là lề luật từ trước truyền lại và không phải là ý kiến hay mong ước của cá nhân tôi. Hi vọng người đọc không 'mất lòng' vì các nhận xét thẳng thắn này, vì sẽ có ích cho người muốn đi xa học đạo (hàm ý chia sẻ trải nghiệm hiếm hoi của mình/NCT). Nếu tôi không ghi lại chính xác điều hay và dở cho người đọc, thì ai có thể biết[v] được điều gì tốt hay xấu? …". Nam Hải Kí Quy Nội Pháp Truyện gồm 4 quyển: phần đầu giới thiệu hoàn cảnh ra đi, các nơi tạm trú cùng 40 điều khoản (chương/mục) được coi như là nội quy cho các sa môn (tăng sĩ hay ni cô Phật giáo) phải noi theo kèm theo các lý do và phê bình chi tiết của pháp sư Nghĩa Tịnh. Một số điều khoản trong NHKQNPT tiêu biểu: 1) Phá hạ phi tiểu 破夏非小 (phá hạ[vi] không phải là chuyện nhỏ - tạm dỉch/NCT) 2) Đối tôn chi nghi 對尊之儀 (cách ứng xử với đức Phật Tổ) 3) Thực toạ tiểu sàng 食坐小床 (ngồi ghế nhỏ trong bữa ăn) 4) Xan phân tịnh xúc 餐分淨觸 (phân biệt thức ăn sạch và dơ) 5) Thực bãi khứ uế 食罷去穢 (vệ sinh sau bữa ăn) 6) Thủy hữu nhị bình 水有二瓶 (hai loại bình đựng nước) 7) Thần đán quan trùng 晨旦觀蟲 (kiểm tra phẩm chất nước vào sáng sớm) 8) Triêu tước xỉ mộc 朝嚼齒木(sáng sớm phải nhai/chà răng bằng xỉ mộc) 9) Thụ trai quỹ tắc 受齋軌則 (lề luật về ăn chay) ... 16) Thi trợ hợp phủ 匙筯合否 (tục dùng thìa[vii]/muỗng và đũa[viii] có phù hợp không?) 17) Tri thì nhi lễ 知時而禮 (chào nhau sao cho hợp thời/biết lúc nào đảnh lễ) 18) Tiện lợi[ix] chi sự 便利之事 (cách thức vệ sinh cá nhân) … 20) Tẩy dục tùy thì 洗浴隨時 (tắm rửa vào lúc nào) … 38) Thiêu thân bất hợp 燒身不合 (thiêu xác thân là không hợp lẽ trong PG) 39) Bàng nhân hoạch tội 傍人獲罪 (người ngoài cuộc mắc tội) 40) Cổ đức bất vi 古德不為 (các điều sa môn cao tuổi và đạo đức không làm) Trong các tác phẩm, Pháp sư Nghĩa Tịnh ghi lại cuộc sống rất kỷ luật của tăng đoàn Phật Giáo của các môn phái PG, các hoạt động xã hội tổng quát hỗ trợ cho tăng đoàn vào TK 7. Nếu pháp sư Huyền Tăng chỉ ghi khoảng 100 làng cúng dường cho tự viện Nalanda, thì Nghĩa Tịnh ghi nhận là thời mình có khoảng 200 làng địa phương cúng dường gạo, bơ và sữa cho tự viện Nalanda. Nếu Huyền Trang giải thích Nalanda hàm ý thi vô yếm 施無厭 hay công đức cho không ngưng (trong Đại Đường Tây Vực Kí), thì Nghĩa Tịnh lại giải thích Nalanda là tên con rồng ở gần đó, tên là 那伽爛陀 na *cà lan đà (trong Đại Đường Tây Vực Cầu Pháp Cao Tăng Truyện, quyển hạ), là vị thần chăm sóc cho địa phương này (~ thành hoàng). Các tài liệu trên đều rất quan trọng để hiểu rõ hơn lịch sử địa phương, hoạt động xã hội và quá trình hình thành/biến đổi hay sự mất dần của các môn phái Phật giáo ở những quốc gia liên hệ. Không phải chỉ giúp cho các ngành sử học, ngôn ngữ học, văn hóa/tôn giáo mà các tài liệu này cũng cung cấp thông tin rất bổ ích cho khảo cổ học trong quá trình khai quật và xác định dữ kiện thêm chính xác. Bài viết này chú trọng vào chương/điều khoản 17 trong NHKQNPT. 2. Chương 17 - Hán văn trích từ trang này T2125 南海寄歸內法傳 - 卷/篇章 2 | CBETA 線上閱讀 “十七知時而禮: 夫禮敬之法須合其儀,若不順教則平地顛蹶。故佛言:「有二種污觸,不應受禮亦不禮他。」若違教者,拜拜皆招惡作之罪。何謂二污?一是飲食污,謂若食噉一切諸物,下至吞嚼一片之藥,若不漱口洗手已來,並不合受禮禮他。若飲漿或水,乃至茶蜜等湯及酥糖之類,若未漱口洗手,禮同前犯。二是不淨污,謂大小行來身未洗淨,及未洗手漱口;或身或衣被便利不淨洟唾等污,未淨已來;若旦起未嚼齒木,禮同前犯。又於大眾聚集齋會之次,合掌即是致敬,故亦不勞全禮,禮便違教。或迮鬧處、或不淨地、或途路中,禮亦同犯。斯等諸事並有律文,但為日久相承、地居寒國,欲求順教事亦難為,莫不引同多以自慰,詎肯留心於小罪耳!”Chương 17 - Tri thì nhi lễ: phu lễ kính chi pháp tu hợp kì nghi,nhược bất thuận giáo tắc bình địa điên quyết。cố phật ngôn: hữu nhị chủng ô xúc, bất ứng thụ lễ diệc bất lễ tha。nhược vi giáo giả, bái bái giai chiêu ác tác chi tội。 hà vị nhị ô?nhất thị ẩm thực ô, vị nhược thực đạm nhất thiết chư vật, hạ chí thôn tước nhất phiến chi dược, nhược bất sấu khẩu tẩy thủ dĩ lai, tịnh bất hợp thụ lễ lễ tha。 nhược ẩm tương hoặc thủy, nãi chí trà mật đẳng thang cập tô đường chi loại, nhược vị sấu khẩu tẩy thủ, lễ đồng tiền phạm。 nhị thị bất tịnh ô, vị đại tiểu hành lai thân vị tẩy tịnh, cập vị tẩy thủ sấu khẩu; hoặc thân hoặc y bị tiện lợi bất tịnh di thóa đẳng ô, vị tịnh dĩ lai; nhược đán khởi vị tước xỉ mộc, lễ đồng tiền phạm。 hựu ư đại chúng tụ tập trai hội chi thứ, hợp chưởng tức thị trí kính, cố diệc bất lao toàn lễ, lễ tiện vi giáo。 hoặc trách náo xứ、 hoặc bất tịnh địa、 hoặc đồ lộ trung, lễ diệc đồng phạm。 tư đẳng chư sự tịnh hữu luật văn, đãn vi nhật cửu tương thừa、 địa cư hàn quốc, dục cầu thuận giáo sự diệc nan vi, mạc bất dẫn đồng đa dĩ tự úy, cự khẳng lưu tâm ư tiểu tội nhĩ! Chương 17 – “Chào nhau sao cho hợp thời” Phỏng dịch và thêm khái niệm mở rộng cho rõ nghĩa /NCT: “Cách chào hỏi nhau phải theo đúng lề luật, nếu không thì sẽ như bị trượt chân ngã nhào khi đi trên đất bằng vậy. Thành ra đức Phật Tổ từng dạy rằng "Có hai thứ ô uế (không tinh khiết/NCT) để mà ta không nhận sự chào hỏi từ người khác hay khi chính mình chào người khác". Nếu không chào đúng lề luật, thì cũng như phạm tội ác vậy. Thế nào là hai thứ ô uế? Đầu tiên là thứ ô uế đến từ ăn uống, bất kỳ ăn gì, ngay cả khi dùng một liều thuốc nhỏ, thì không được chào nhau trước khi súc miệng và rửa tay. Chào nhau là không đúng lề luật sau khi dùng cháo, nước, trà, mật, hay loại bơ Ghee Ấn Độ[x], nước đường đặc - trừ khi đã súc miệng và rửa tay. Thứ nhì là khi đi vệ sinh, như tiểu tiện hay đại tiện, mà không rửa tay hay súc miệng - hay không rửa sạch thân thể hay quần áo vì dính nước mũi hay nước miếng sau khi đi vệ sinh - đều dẫn đến thứ ô uế thứ hai. Đây là khi không chà răng bằng xỉ mộc vào buổi sáng, thì cũng phạm tội như trên. Khi tăng đoàn tụ tập hay vào ngày trai, thì chỉ cần chắp hai bàn tay lại để chào để tỏ lòng tôn kính mà không cần phải bái lạy hoàn toàn theo đúng lề luật (hay là chọn cách chào đơn giản và thực tế - tiêu chí môi trường xã hội/NCT ); nếu làm ngược lại là không đúng giới luật. Khi ở nơi ồn ào, ô uế hay trên đường đi mà bái lạy theo kiểu cách thì cũng phạm giới luật. Các điều này đã được ghi trong sách kinh về giới luật đạo Phật. Tuy nhiên, vì truyền lại từ lâu đời (tiêu chí thời gian/NCT) và ở những nước có khí hậu lạnh giá (tiêu chí môi trường không gian/NCT - Nghĩa Tịnh hàm ý Trung Hoa), thành ra tuân thủ giới luật nguyên thủy trở nên rất khó khăn dù ta vẫn mong muốn theo đúng lề luật đã đặt ra. Không một người tu hành nào muốn bị đặt trong những tình huống như vậy, nhưng lại thường quên những lỗi lầm nhỏ đã ghi trên” 3. Các cách dùng Hán Việt trong chương 17Một số chữ hiếm như tác/sách HV 迮 là chữ hiếm bộ sước - xuất hiện trong câu 或迮鬧處 hoặc tác/sách náo xứ - dùng như tác bộ nhân
Bình luận
Gửi bình luận của bạn
|
Tin nhiều người đọc Danh bạ website Phật giáo Sự kiện - Hội thảo
Đăng ký bản tin |

