-
Phổ thuyết Tứ sơn là phần có tính văn chương hay và uyên bác bậc nhất trong Khóa hư lục, phần giải nghĩa Nôm cũng chuẩn xác với văn từ tuy nôm na mà vẫn mượt mà nhuần nhị thể hiện được cái hay đẹp của tiếng Việt cổ.
-
Truyền thống Theravada (Phật giáo Nam Truyền) thường tụng Kinh Châu Báu (Ratana Sutta) như một pháp hộ thân và cầu an. Kinh Châu Báu thuộc nhóm Tiểu Bộ "Sutta Nipāta" (Kinh Tập) trong Tạng Kinh Pali (Snp 2.1). Các bạn hãy còn nhớ rằng bài kinh này thường được tụng đọc hàng ngày tại các chùa Phật giáo Nam truyền thời đại dịch coronavirus, và cũng thường tụng để giúp những ai đang đối mặt với các tai ương, điều tiêu cực, bệnh tật hay nỗi sợ hãi cái chết.
-
Trong hơn 2.500 năm lịch sử, Phật giáo đã hình thành nhiều truyền thống phong phú, mỗi truyền thống mang đến một góc nhìn sâu sắc về phương thức lưu giữ và diễn giải giáo lý của Đức Phật. Truyền thống Nguyên thủy trân trọng và duy trì bộ Kinh điển Pali như những lời dạy nguyên sơ được kiên trì truyền thừa qua hàng ngàn năm. Truyền thống Đại thừa đóng góp vào kho tàng triết học Phật giáo hệ thống Kinh điển Bắc truyền đồ sộ với những bản kinh kinh điển như Kinh Bát Nhã hay Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ...
-
Điểm gặp gỡ sâu xa giữa hai “Phạm Võng” không nằm ở việc xóa nhòa sự khác biệt giữa Phật giáo Pāli và Đại thừa, mà nằm ở khả năng nhận ra rằng kiến chấp, tâm niệm, lời nói và hành vi đều liên hệ với tiến trình giải thoát và tu tập.
-
Kinh Ba-lê để lại thông điệp triết học và thực hành sâu sắc là giá trị giải thoát chân thật không nằm ở việc sở hữu năng lực siêu nhiên hay kiến thức uyên bác, mà nằm ở tuệ giác soi chiếu tính vô ngã.
-
Lời dạy của đức Phật nhắc nhở rằng một số câu hỏi có thể tạm thời để ngỏ, để chúng ta tập trung vào những giáo pháp thực tiễn đang hướng dẫn mình đến bình an và giác ngộ.
-
Giá trị của chính niệm không chỉ nằm ở việc giúp ta an trú trong hiện tại, mà còn ở khả năng đưa ta từ nhận biết đến tỉnh giác, từ tỉnh giác đến trí tuệ và từ trí tuệ đến chuyển hóa khổ đau.
-
Này chư Hiền, thế nào là Chính Niệm? Này chư Hiền, ở đây, Tỳ kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chính niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chính niệm...
-
Khi Pāyāsi buông bỏ tà kiến để tiếp nhận chính kiến, Kinh Tệ-túc gợi mở hướng chuyển hóa tâm thức dựa trên việc buông bỏ ảo tưởng về tự ngã và sống trọn vẹn với thực tại duyên sinh.
-
Này các Tỳ kheo, không cần gì nửa tháng, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này trong bảy ngày, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chính trí ngay trong hiện tại, hai là nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất lai.
-
Những Tỳ kheo nào, này các Tỳ kheo, nêu rõ Như Lai có chế đặt, tuyên bố là Như Lai có chế đặt, các Tỳ kheo ấy, này các Tỳ kheo, sở hành như vậy, đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, lợi ích cho đa số...
-
Cái được Ta biết rõ, Ta đã tuyên bố cho các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ được biết. Này các Tỳ-kheo, tức là Phạm hạnh này, phồn vinh, thịnh vượng, quảng đại, chúng đa, nhiều người và được chư Thiên, loài Người khéo léo trình bày.
-
Kinh Đế-thích sở vấn cho thấy hận thù, tranh chấp và bất an không phải là hiện tượng ngẫu nhiên, mà khởi lên từ một chuỗi duyên khởi của tâm, bắt đầu từ vọng tưởng, tầm, dục, ưa-ghét, rồi dẫn đến tật đố và xan tham.
-
Trong kho tàng kinh điển Phật giáo Nguyên thủy, kinh Trung bộ (Majjhima Nikāya) giữ một vị trí đặc biệt quan trọng.
-
Con người hiện đại không thiếu tiện nghi nhưng lại đối mặt với một loạt khó khăn phức tạp, nhiều cái “vô hình” hơn là thiếu ăn thiếu mặc.
-
Dưới góc nhìn vô ngã, tám pháp không chỉ là tiêu chuẩn đạo đức mà còn là lộ trình thực hành giúp chuyển hóa ngã chấp để tháo gỡ sự chấp thủ một cái tôi và thiết lập trí tuệ thấy biết chân lý.
|
|