Chi tiết tin tức Hiểu khổ 18:29:00 - 27/03/2026
(PGNĐ) - Hãy quán sát thân. Quán sát tâm. Bạn đã hành thiền liên tục, nên dù tâm trí bạn chưa yên tĩnh, chưa đạt đến mức độ tập trung vững chắc như bạn mong muốn, thiền vẫn là một hoạt động thiện xảo trong việc phát triển niềm tin, phát triển sự kiên trì.
Ít nhất nó sẽ mang lại kết quả ở mức độ cảm nhận, khiến bạn trở thành một người thông minh, đồng thời phát triển những tính cách đầy phẩm hạnh trong tương lai. Vì vậy, đừng nản lòng. Chớ để bản thân nghĩ rằng mình không thấy kết quả gì từ việc hành thiền. Thực ra, bạn mong mỏi điều gì từ việc hành thiền của mình? Bạn thiền để tâm được tĩnh lặng, và tâm đã tĩnh lặng bằng buông bỏ. Đó chính là thiền định: sự buông bỏ. Nếu bạn thiền để “có được” điều gì, đó là sự tham ái, nguyên nhân của khổ đau. Tham ái không phải là việc của thiền. Pháp đã có mặt ở đây, nên chúng ta chỉ cần học hỏi, nghiên cứu nó để biết được sự thật. Sự thật không phải là điều gì mới mẻ. Đó là điều đã tồn tại từ thời xa xưa. Tất cả chư Phật trong quá khứ đã giác ngộ từ chính Pháp này, chính sự thật này. Dù vũ trụ có thay đổi từ kỷ nguyên này sang kỷ nguyên khác, Pháp không hề thay đổi theo với vũ trụ. Dù Đức Phật nào được sinh ra trong kỷ nguyên nào, quý Ngài đều giác ngộ từ cùng một sự thật. Quý Ngài đã dạy cùng một chân lý. Pháp ấy giống nhau. Sự thật giống nhau, luôn có mặt ngay tại đây trong mọi lúc. Chỉ đơn giản là chúng ta không nhận ra nó. Chúng ta chưa thấu hiểu các thuộc tính cơ bản của nó. Sư chỉ yêu cầu các con quyết tâm nghiên cứu nó. Sự thật luôn là sự thật. Nó luôn hiện hữu. Sự thật mà Đức Phật dạy bắt đầu bằng nguyên tắc rằng khổ là một sự thật. Bạn có khổ đau không? Hãy tự kiểm tra bản thân một cách cẩn thận. Có căng thẳng và khổ đau nào trong bạn không? Hay là không có gì cả? Chừng nào còn có khổ đau bên trong bạn, sự thật của những chân lý cao quý mà Đức Phật dạy vẫn còn đó. Khi bạn chánh niệm để theo dõi những khổ đau xuất hiện bên trong, bạn đang quán sát sự thật theo đúng như nó thực sự là. Nhưng ngoài việc chỉ ra sự thật về khổ, Đức Phật cũng dạy con đường để chấm dứt khổ. Điều này cũng là một sự thật. Đức Phật đã đảm bảo rằng khi phát triển con đường đó một cách đầy đủ, chúng ta sẽ được giải thoát khỏi khổ đau. Chứ khổ không phải là sự thật duy nhất, mà chúng ta bị nhấn chìm trong đó. Đức Phật đã tìm ra con đường thoát khỏi khổ, như người bác sĩ thông minh không chỉ hiểu bệnh tật mà còn biết các loại thuốc kỳ diệu để chữa trị chúng. Đây là lý do tại sao sự thật của con đường lại quan trọng đến vậy, vì rất nhiều người đã áp dụng nó vào thực tiễn và đạt được kết quả. Sự thật của con đường là điều mà chúng ta thực hành để giải thoát khỏi khổ đau - như lời tụng: Những người không tuệ tri khổ đau, Nguyên nhân của khổ đau... Những người không hiểu con đường, Con đường làm tĩnh lặng khổ đau... Họ sẽ lại sinh ra và già đi lần nữa. Nếu không hiểu khổ đau và con đường đưa đến chấm dứt khổ đau, chúng ta sẽ phải trải nghiệm sinh, già và chết, những nguyên nhân không chỉ của khổ mà còn là của sự tham ái dẫn đến nhiều khổ đau hơn. Chúng ta nên vui mừng vì đã có tất cả những chân lý cao quý mà chúng ta cần. Chúng ta có khổ, nhưng con đường chấm dứt khổ không nằm đâu xa. Qua Kinh tạng, ta thấy rằng Đức Phật và các Thánh đệ tử của Ngài không thực hành điều gì xa lạ. Họ đã thanh lọc thân, tâm của họ. Họ đã làm điều này với sự hiểu biết rằng thân, tâm của họ hoạt động theo đúng như chúng thực sự là. Khi chúng ta không biết thân tâm của mình theo đúng như chúng thực sự là, đó là nguyên nhân của khổ đau. Khi chúng ta tu tập để hiểu biết thân tâm của chính mình, theo đúng như chúng thực sự là, đó là con đường để giải thoát khổ đau. Ngoài điều này ra, không có con đường nào khác. Chúng ta đã có thân. Chúng ta đã có tâm - thuộc tính nhận thức. Vì vậy, chúng ta lấy thuộc tính nhận thức này, sử dụng nó vào việc quán sát thân theo ba đặc điểm của nó: vô thường (aniccatā), khổ (dukkhatā), và vô ngã (anattatā). Tính không bền vững và tính căng thẳng nằm ở phía khổ và là nguyên nhân của nó. Chúng ta phải quán sát để thấy ai thực sự sở hữu chúng. Vấn đề về tính không bền vững là rất quan trọng. Rūpaṁ aniccaṁ: sắc pháp là không bền vững. Ai sở hữu sắc pháp? Rūpaṁ dukkhaṁ: sắc pháp là khổ. Ai là người chịu khổ? Khổ là điều phải phụ thuộc vào nguyên nhân và điều kiện để phát sinh. Nó không tự đến. Giống như âm thanh: chúng ta phải phụ thuộc vào tiếp xúc để nghe thấy nó. Nếu không có sự tiếp xúc, chúng ta sẽ không biết có âm thanh ở đâu. Tương tự, khổ (căng thẳng) cũng phụ thuộc vào tiếp xúc. Nếu không có tiếp xúc, chúng ta sẽ không biết có khổ. Nếu khổ có thể tự nó đốt cháy chúng ta một cách độc lập, Đức Phật đã không có thể thoát khỏi chúng. Chúng ta sẽ không có cách nào thực hành, vì dù sao đi nữa, khổ vẫn tiếp tục tự đốt cháy tất cả chúng ta. Nhưng sự thực là khi thực hành, chúng ta có thể thoát khỏi khổ, vì khổ không có sẵn trong tâm, nó không có sẵn trong thuộc tính nhận thức này (knowing property). Nó phải phụ thuộc vào sự tiếp xúc thông qua các giác quan để có thể phát sinh. Đây là lý do tại sao các bậc hiền trí nghiên cứu sự thật. Hoặc như khi chúng ta tụng đọc: Cơ thể này của tôi, Từ lòng bàn chân lên, Từ đỉnh đầu trở xuống, Bao quanh bởi làn da. Trong cơ thể này, chúng ta có tất cả năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Sắc là uẩn thô nhất, vì chúng ta có thể chạm vào nó bằng tay và nhìn thấy nó bằng mắt. Còn thọ, tưởng, hành và thức, chúng là những hiện tượng tâm lý. Dù không thể chạm vào chúng bằng thân, chúng ta vẫn có thể biết và trải nghiệm chúng. Chẳng hạn, chúng ta luôn có cảm giác vui vẻ, bực bội, hoặc không vui cũng không buồn. Tưởng: chúng ta nhớ nhiều điều và đặt tên cho chúng. Hành: chúng ta tạo ra những suy nghĩ, và ý thức nhận biết nhiều điều. Tất cả chúng ta đều nhận biết sự việc, gán nhãn cho chúng, tạo ra suy nghĩ về chúng, và trải nghiệm về chúng. Vấn đề chính là sắc thân. Đức Phật đã dạy chúng ta quán sát nó để biết những chân lý cao quý trong cả sắc lẫn danh pháp. Khi Ngài dạy rằng sinh là khổ, già là khổ, chết là khổ, Ngài đang nói đến sự sinh, già, và chết ngay tại thân, nơi năm uẩn gặp nhau - nơi sắc pháp mà chúng ta đã có. Tuy nhiên, hầu hết chúng ta không thích suy ngẫm về sự thật của những điều này. Chúng ta nghĩ rằng sinh là vui. Chúng ta đã nhầm lẫn giữa niềm vui và khổ đau. Chính vì không nhận ra sự thật về những điều này nên chúng ta không tìm lối thoát ra. Ngược lại, Đức Phật đã biết sự thật này, đó là lý do tại sao Ngài đã thực hành suy ngẫm về nó. Ngài đã thử nghiệm để xem liệu sinh có phải là hạnh phúc hay không bằng cách cảm nhận liệu tâm trí có thể giữ được yên tĩnh với sự sinh hay không: “Có đau đớn nào không? Có điều gì làm phiền tâm trí không? Và điều gì làm đau và làm phiền tâm trí ngoài sự sinh, sự xuất hiện của các thứ?”. Chính vì sự có mặt của thân mà chúng ta phải luôn tìm kiếm thức ăn và những thứ cần thiết để duy trì nó. Tham, sân và si có mặt vì có sinh. Và một khi có sinh, sẽ có sự già, sự suy thoái, sự hao mòn liên tục. Bất cứ điều gì chúng ta có đều hao mòn, hoại diệt mỗi ngày. Đức Phật đã giác ngộ sự thật rằng sinh là khổ. Niềm vui duy nhất là khi, nếu đói, chúng ta ăn đủ để cơn đói qua đi trong một thời gian ngắn. Nhưng sau đó chúng ta lại thấy đói. Khi ra ngoài nắng nóng, chúng ta tìm bóng râm để được mát một chút, nhưng sau đó chúng ta cảm thấy nóng trở lại. Khi mệt mỏi, chúng ta nằm nghỉ ngơi. Nhưng nếu nằm lâu, chúng ta cảm thấy thân cứng đờ. Nếu đi bộ lâu, chúng ta cảm thấy choáng váng. Khi mọi thứ diễn ra như vậy, tâm trí không thể tìm thấy sự bình an hay được nghỉ ngơi chút nào. Do có sinh, tâm bị nhiễu loạn và phát sinh ô uế. Mà đó cũng không phải là tất cả. Do có sinh, mới có già và sự suy thoái. Dù ta có chăm sóc thân đến đâu, nó cũng sẽ không ở lại với ta. Cuối cùng, mọi thứ đều sụp đổ. Và một khi nó chết, không ai có thể quản lý nó. Nếu chúng ta chỉ tỉnh táo vào lúc đó, để chỉ nhận ra rằng khi phải chết, nó chết, thì đã quá muộn để làm gì. Nhưng nếu chúng ta tin vào những sự thật này ngay bây giờ trong hiện tại trước khi cái chết đến, chúng ta sẽ không tự mãn về tuổi trẻ hay sự sống của mình. Nếu chúng ta có thể chánh niệm mọi lúc rằng cái chết là điều không thể tránh khỏi, rằng - ngay cả khi chúng ta đang mạnh như voi - một căn bệnh nguy hiểm cũng có thể ập đến bất cứ lúc nào, khiến ta không thể ngồi dậy, không thể làm gì để tự giúp mình: khi nhận ra điều này, chúng ta sẽ biết là không nên tự mãn về sức khỏe của mình. Khi đó, chúng ta có thể hành động theo những cách thực sự có lợi cho bản thân, để chúng ta có nơi trú ẩn khi không còn có thể nương tựa vào tuổi trẻ, sức khỏe, hoặc cuộc sống của mình. Khi quán sát bất cứ nơi nào trên thân, bạn thấy nó đang hao mòn. Có bệnh. Ô uế. Không có gì trong cơ thể thực sự mạnh mẽ hoặc bền lâu. Khi bạn thấy điều này rõ ràng, bạn sẽ không còn bị lừa để bám víu vào nó. Bạn có thể phân tích cơ thể thành các phần và thấy rằng chúng đều không bền, khổ và vô ngã. Khi bạn phát triển cái nhìn rõ ràng về vô ngã, bạn sẽ có thể thoát khỏi khổ và vô thường. Đó là vì tính không bền vững là vấn đề thuộc về vô ngã; khổ là vấn đề thuộc về vô ngã. Chúng không phải là vấn đề của chúng ta. Vậy chúng ta hy vọng gì khi để bản thân khổ sở và bị uế nhiễm vì chúng? Đây là lý do tại sao những bậc thượng nhân, khi họ nhìn ra được những sự thật này, họ đã gọi chúng là những nguy hiểm trong vòng luân hồi (saṁsāra). Bạn phải hiểu điều gì được gọi là vòng, là chu kỳ. Có chu kỳ tạo nghiệp, chu kỳ nhân, và quả. Chu kỳ tạo nghiệp là vô minh, sự ngu dốt khiến tâm trí trở nên si ám, uế nhiễm. Những uế nhiễm này là nguyên nhân gây ra khổ đau… Bất kỳ hành động nào chúng ta thực hiện với tâm uế nhiễm đều khiến chúng ta quay cuồng trong vòng luân hồi, dù hành động khéo léo hay không khéo léo. Ngay cả những hành động khéo léo cũng có thể dẫn đến ảo tưởng. Thí dụ khi chúng ta trải nghiệm những hình ảnh, âm thanh, địa vị hoặc tài sản tốt đẹp như kết quả của những hành động khéo léo của mình, chúng ta có thể trở nên không khéo léo, vô tâm và tự mãn, vì chúng ta ảo tưởng rằng có một cái ngã ở nơi những điều đó. Khi chúng bắt đầu thay đổi, ngược lại với mong muốn, chúng ta trở nên thất vọng và bắt đầu hành ác nghiệp. Khi chúng hoại diệt, chúng ta hành động theo cách không khéo léo. Điều này tạo ra nghiệp trong cả thân và khẩu. Khi chúng ta hành động thiếu khéo léo, quả nghiệp chúng ta nhận lãnh sẽ đầy đau khổ. Khi trải nghiệm những nỗi đau này, tâm ta trở nên uế nhiễm. Vì nỗi đau che khuất tầm nhìn của chúng ta, khiến tâm trở nên sân và tham ái đối với đối tượng mà chúng ta mong muốn, do đó chu kỳ tạo nghiệp lại phát sinh. Nếu chúng ta có thể hiểu khổ là một phần của chu kỳ tạo nghiệp, chúng ta có thể chặn đứng các uế nhiễm dẫn đến nhân, quả mới. Vì vậy, hãy nghiên cứu sự thật về khổ để chúng ta có thể cắt đứt những chu kỳ này qua trí tuệ của cái nhìn đúng (chánh kiến), là một yếu tố trong Bát chánh đạo. Hãy phát triển và củng cố con đường đạo này bằng cách hiểu về khổ trong sinh, già, bệnh và chết. Khi chúng ta hiểu khổ đúng như nó thực sự là, chúng ta không cần phải lo lắng về nguyên nhân của khổ, vì làm thế nào nó có thể phát sinh khi chúng ta thấy được những nhược điểm của quả của nó? Một khi tri giác đã có mặt, làm sao vô minh có thể xuất hiện? Giống như khi chúng ta ở trong bóng tối. Nếu chúng ta cố gắng chạy quanh để xóa tan bóng tối, nó không thể bị xóa tan. Bóng tối không thể bị chúng ta phân tán. Chỉ có ánh sáng mới phân tán được bóng tối. Khi chúng ta đốt lên ngọn lửa, bóng tối tự động biến mất. Đối với vô minh cũng thế: nó không thể bị phân tán với sự suy nghĩ của chúng ta. Chỉ có cái thấy rõ ràng mới phân tán nó được. Khi chúng ta có trí tuệ, nhân của khổ tự biến mất, không cần tới sự can thiệp của ta. Vì vậy, hãy cố gắng phát sinh trí tuệ sáng suốt tột cùng, rồi bạn chắc chắn sẽ được giải thoát khỏi khổ đau không nghi ngờ gì nữa. Hãy thực sự quyết tâm. Bấy nhiêu đó đã đủ. Hãy tiếp tục hành thiền.
Phra Ajaan Suwat Suvaco (1919-2002), tu theo dòng thiền của các ngài Ajaan Mun Bhuridatto và Ajaan Lee Dhammadharo. Xuất gia từ trẻ và sau đó trở thành đệ tử thân cận của ngài Ajaan Lee Dhammadharo, một bậc thầy nổi tiếng trong truyền thống tu rừng. Giáo pháp của ngài Suvaco được ghi lại qua nhiều bài giảng giản dị mà sâu sắc, nhấn mạnh việc quay về quan sát tâm, buông xả, và tự thân chứng nghiệm chân lý. Thanissaro Bhikkhu (sinh năm 1949), tên thường gọi Ajaan Geoff, là một trong những Tăng sĩ và học giả nổi bật của truyền thống tu rừng Thái Lan, đồng thời là dịch giả uy tín của Kinh tạng Pāli. Năm 1976, ngài sang Thái Lan tu học, trở thành đệ tử xuất gia của ngài Ajaan Fuang Jotiko. Từ năm 1993 đến nay, ngài giữ vai trò viện chủ của Metta Forest Monastery. Diệu Liên Lý Thu Linh dịch
Bình luận
Gửi bình luận của bạn
|
Tin nhiều người đọc Danh bạ website Phật giáo Sự kiện - Hội thảo
Đăng ký bản tin |



