Chi tiết tin tức

Di sản thiền tông - những giá trị của thiền tông đối với sự nghiệp bảo vệ đất nước

15:41:00 - 15/09/2026
(PGNĐ) -  “Thiền sư Vạn Hạnh là bậc cao tăng trí giả xuất sắc nhất đương thời, được vua Lý Thái Tổ phong quốc sư. Sư họ Nguyễn, quê ở hương Cổ Pháp, sau khi Thiền Ông viên tịch sư kế tiếp trụ trì chùa Lục Tổ, sư còn mở trường hoằng pháp đào tạo tăng tài trên núi Tiêu Sơn. Khi Lý Công Uẩn còn nhỏ tuổi, làm con nuôi nhà sư Khánh Vân (em Vạn Hạnh) sư thấy Công Uẩn có tướng lạ, nhận xét sau này sẽ là con người phi thường, có thể cứu đời yên dân làm minh chủ thiên hạ. Khi vua Lê Ngoạ Triều -Long Đỉnh tàn ngược độc ác, trời người đều oán giận, Lý Công Uẩn lúc ấy đang giữ chức thần vệ điện tiền chỉ huy sứ, chỉ huy quân cấm vệ, được tập dượt làm quen với công việc triều chính. Nhân lúc nhà Tiền Lê suy yếu tình thế buộc phải lập quân triều mới để bảo tồn vận mệnh quốc gia dân tộc. Sư muốn đưa Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế cho hợp với đạo trời, hợp với lòng người. Để vừa tránh được sự dị nghị vừa muốn để chứng tỏ Lý Công Uẩn lên ngôi là xứng đáng Vạn Hạnh dùng pháp thuật nhập thiền nói là đêm đêm nghe thấy tiếng ngâm thơ phát ra từ trong mộ đại vương Hiển Khánh. Sư cho ghi lại được bốn bài, mỗi bài thơ nói về mỗi hướng Đông, Tây, Nam Bắc mà trung tâm là hướng Đình Bảng quê của Vạn Hạnh và Lý Công Uẩn nội dung đều ca ngợi vùng Thiên Đức là đất anh linh nhân kiệt, hào khí thịnh vượng, tạo ra xu hướng phò Lý, mở ra tiền đồ Đại Việt, bảo đảm một nhà Lý trị vì thiên hạ bền vững, lâu dài”.

A. DẪN NHẬP

Dân tộc Đại việt từ những buổi hồng hoang cho đến khi giữ yên bờ cõi, đều thấm đượm tinh thần hiên ngang, bất khuất. Sự đoàn kết, lòng quả cảm, yêu nước, thương dân đã gắn kết mọi tầng lớp nhân dân đấu tranh, đem lại hòa bình, độc lập cho đất nước. “Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt” câu tục ngữ Việt Nam đã nói lên sự hòa quyện giữa Phật giáo Việt Nam và dân tộc Việt Nam, đặc biệt với tinh thần lợi tha, hòa quang đồng trần, Thiền tông đã đồng hành cùng dân tộc trong những giai đoạn thăng trầm của lịch sử. Thiền tông giúp con người tự tin, tự lập, kiên cường, mạnh mẽ và sẵn sàng vượt qua những chông gai, sóng gió. Chính vì thế, Thiền tông đã gắn liền với dân tộc Việt Nam như hơi thở, như nhịp đập của người dân nước Việt.

B. NỘI DUNG

I Sơ lược về sự hình thành của Thiền tông Đại Việt.

Đạo Phật được truyền vào nước ta rất sớm, khoảng cuối thế kỷ thứ II, đầu thế kỷ thứ III do các ngài Khương Tăng Hội và Mâu Bắc… truyền vào. 

Thiền tông chánh pháp nhãn tạng được Đức Thế Tôn trao truyền cho Tổ Đại Ca Diếp và lần lượt tiếp nối qua các đời tổ sư, tạo nên một sự truyền thừa bất tận. Phật giáo Việt Nam kế thừa tinh túy ấy, mạch ngầm Thiền tông lưu thông vào đất nước Đại Việt, góp phần cho sự hình thành và phát triển các Thiền phái như sau: 

  1. Dòng thiền Tì- ni- đa- lưu- chi được thành lập vào năm 580, do Thiền sư Tỳ -ni-đa- lưu- chi sáng lập.
  2. Dòng thiền Vô Ngôn Thông được thành lập vào năm 820, do Thiền sư Vô Ngôn Thông sáng lập.
  3. Dòng thiền Thảo Đường được thành lập vào năm 1069, do Thiền sư Thảo Đường sáng lập.
  4. Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử được thành lập vào năm 1299, do Phật hoàng Trần Nhân Tông sáng lập.

II Di sản Thiền tông -Những giá trị của thiền tông đối với sự nghiệp bảo vệ đất nước.

Cốt lõi của Thiền tông là Phật tại tâm “Tâm tịch nhi tri, thị danh chân Phật- nghĩa là Tâm lặng mà rõ biết, đó là Phật thật” (Quốc sư Viên Chứng). Các nhà lãnh đạo đất nước lúc bấy giờ đã áp dụng Phật pháp tại thế gian, với tinh thần nhập thế, xây dựng nền tảng vững chắc về tính tự chủ, kiên tâm, can trường tạo nên hào khí Đông A- oai hùng, quả cảm của người dân Đại Việt, góp phần trong việc bảo vệ đất nước, giữ yên bờ cõi.

  1. Giữ gìn và bảo vệ long mạch cho quốc gia xã tắc.

Từ ngàn xưa, long mạch đóng vai trò rất quan trọng trong sự an nguy và thịnh suy của một đất nước. Phương Bắc đô hộ dân tộc ta về mọi mặt và ngay cả long mạch họ cũng tìm cách phá hoại, làm mất đi vượng khí, ngăn chặn sự xuất hiện của các bậc đế vương, để nước Nam mãi là thuộc địa của họ. Nhưng âm mưu này không thực hiện được, bởi đất nước Đại Việt luôn có những Thiền sư tài ba, lỗi lạc, lại thông suốt cả phong thủy học nên đã chống phá âm mưu hiểm độc này, đã bảo vệ và hàng long mạch, khôi phục vượng khí quốc gia, tạo tiền đề cho một triều đại mới, làm cho đất nước độc lập phát triển hưng thịnh.

Thiền sư Định Không (730- 808)

Thiền sư Định Không, quê ở làng Cổ Pháp, con nhà danh giá, lại thâm hiểu về thế số. Trong khi đất nước còn nằm dưới ách cai trị nhà Đường, Thiền sư Định Không đã nhen nhóm đức tin về một nền độc lập quốc gia, bảo rằng chính địa thế của làng ông sẽ sản xuất ra một nhân vật chính trị, có thể thực hiện được nền độc lập đó và căn cứ vào sự tiên đoán của ông nhân vật này sẽ là người họ Lý. Ông còn dặn lại đệ tử là Thông Thiện, đất Cổ Pháp này là đất quan trọng, sau này có thể có kẻ dị nhân đến phá hoại, ngươi phải giữ gìn. Thông thiện ghi lại lời của Định Không, ở ngôi tháp được dựng lên thờ Định Không tại phía tây chùa Lục Tổ và trước khi mất thì dặn dò lại sự việc cho đệ tử là La Quý An”. (1) 

Trưởng lão La Quý An (852-936)

Sư họ Đinh thế hệ thứ 10 dòng Thiền Tì- ni- đa- lưu- chi. Thiền sư La Quý An cho biết là trong thời đại ông, cuộc đất này đã một lần phá hoại rồi, người phá hoại đó là Cao Biền.

Theo La Quý An, Cao Biền khi đắp thành ở sông Tô Lịch đã biết đất Cổ Pháp là đất có khí Vương giả nên đã cho đào 19 địa điểm để yếm phá và chính La Quý An đã cho lắp cả 19 nơi như cũ. Ông lại xác định là thế nào đất này cũng có một nhân vật có mệnh đế vương xuất hiện, để phù trợ quốc gia và chính pháp”. (2) 

  1. Hàm dưỡng Hiền tài.

Con người là giá trị cốt lõi của một đất nước. Xây dựng nhân cách, đạo đức, phát triển trí tuệ, am tường binh pháp thế trận, hiểu rõ văn hóa chính trị, quân sự… là những yếu tố tạo nên đội ngũ hiền tài, góp phần bảo vệ và phát triển đất nước ở thời chiến và thời bình. Trong thời gian bị xâm lược, cai trị, dân tộc ta chịu những sự áp bức thống khổ cùng với chính sách ngu dân làm giới hạn sự hiểu biết, kiến thức của quần chúng nhân dân. Nhưng lòng yêu nước, sự tự chủ, tự tôn luôn rực cháy trong trái tim của người dân nước Việt, được biểu hiện qua các cuộc khởi nghĩa, đấu tranh, dù chưa giành được thắng lợi hoàn toàn nhưng dòng máu Việt vẫn luôn tuôn chảy tinh thần cứu nước, cứu dân thoát khỏi ách thống trị của giặc đô hộ. Chính vì thế, việc xây dựng đội ngũ nhân tài, hiền tài là điều kiện tiên quyết, để lãnh đạo, đưa ra chính sách hướng dẫn nhân dân đấu tranh, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc. Phật giáo lúc bấy giờ, đặc biệt là Thiền tông hiểu rõ những nỗi thống khổ của dân tộc Việt Nam, nên các thiền sư đã biến chùa chiền trở thành nơi hướng dẫn lối sống, văn hóa, đạo đức và bồi dưỡng kiến thức xây dựng thế hệ hiền tài để cứu nước, cứu dân. Thiền Tăng Truyện Ký có ghi lại rằng : “Nhà đường thống trị Giao Châu khắc nghiệt.họ tôn sùng đạo Phật nhưng lại áp dụng chính sách ngu dân, nên trí thức và sĩ phu ngoài đời trở nên hiếm hoi, họ buộc phải tìm cửa thiền làm nơi nương thân, giấu chí. Ý thức về độc lập quốc gia của người Giao Châu được nhen nhóm trong cửa thiền. Khi cơ hội đến, chính các thiền sư là những người đầu tiên đứng ra ủng hộ cho việc tranh đấu, giành chủ quyền và xây dựng một nền văn hóa quốc gia độc lập điều này ta thấy rõ ở các thời Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần” (3) 

Đế vương là bậc đứng đầu thiên hạ, một đất nước được thái bình, thịnh trị hay loạn lạc, bất an đều ở bậc đế vương. Các triều đại hưng thịnh, tồn tại lâu dài đều nhờ vào những nhà vua hiền đức, tài ba, yêu nước, thương dân như con. Bên cạnh nhà vua luôn có các tướng lĩnh, thái sư, thiền sư, tăng thống là những người phò trợ, cố vấn về các mặt văn hóa, chính trị, quân sự… góp phần xây dựng một triều đại cường thịnh, một đất nước an lạc, thái bình.

Thiền sư Vạn Hạnh (?- 1018)

Thiền sư Vạn Hạnh là bậc cao tăng trí giả xuất sắc nhất đương thời, được vua Lý Thái Tổ phong quốc sư. Sư họ Nguyễn, quê ở hương Cổ Pháp, sau khi Thiền Ông viên tịch sư kế tiếp trụ trì chùa Lục Tổ, sư còn mở trường hoằng pháp đào tạo tăng tài trên núi Tiêu Sơn.

Khi Lý Công Uẩn còn nhỏ tuổi, làm con nuôi nhà sư Khánh Vân (em Vạn Hạnh) sư thấy Công Uẩn có tướng lạ, nhận xét sau này sẽ là con người phi thường, có thể cứu đời yên dân làm minh chủ thiên hạ.

Khi vua Lê Ngoạ Triều -Long Đỉnh tàn ngược độc ác, trời người đều oán giận, Lý Công Uẩn lúc ấy đang giữ chức thần vệ điện tiền chỉ huy sứ, chỉ huy quân cấm vệ, được tập dượt làm quen với công việc triều chính. Nhân lúc nhà Tiền Lê suy yếu tình thế buộc phải lập quân triều mới để bảo tồn vận mệnh quốc gia dân tộc. Sư muốn đưa Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế cho hợp với đạo trời, hợp với lòng người. Để vừa tránh được sự dị nghị vừa muốn để chứng tỏ Lý Công Uẩn lên ngôi là xứng đáng Vạn Hạnh dùng pháp thuật nhập thiền nói là đêm đêm nghe thấy tiếng ngâm thơ phát ra từ trong mộ đại vương Hiển Khánh. Sư cho ghi lại được bốn bài, mỗi bài thơ nói về mỗi hướng Đông, Tây, Nam Bắc mà trung tâm là hướng Đình Bảng quê của Vạn Hạnh và Lý Công Uẩn nội dung đều ca ngợi vùng Thiên Đức là đất anh linh nhân kiệt, hào khí thịnh vượng, tạo ra xu hướng phò Lý, mở ra tiền đồ Đại Việt, bảo đảm một nhà Lý trị vì thiên hạ bền vững, lâu dài”. (4) 

Quốc sư Viên Thông (1080-1151)

Quốc sư Viên Thông thế hệ thứ mười tám dòng Tì-ni-đa-lưu -chi. Năm thứ 3 niên hiệu Thiên Thuận 1130 vua Lý Thần Tông triệu sư vào cung để hỏi việc trị loạn hưng vong của đất nước. Sư đáp:

“Thiên hạ ví như món đồ dùng đặt vào chỗ yếu thì yếu, đặt vào chỗ nguy thì nguy, chỉ ở chỗ đức vua thực hành khác nhau đó thôi. Đức hiếu sinh của vua thấm nhuần đến nhân dân thì nhân dân yêu vua như cha mẹ, tôn vua như mặt trời, mặt trăng, thế tức đặt thiên hạ vào chỗ yên vậy. Sư lại nói trị hay loạn là ở quan lại được lòng người thì trị an, mất lòng người thì loạn lạc. Tôi trải xem các đế vương thời trước chưa từng có triều đại nào dùng tiểu nhân mà không suy vong. Nguồn gốc dẫn đến điều đó thì không phải một sớm một chiều mà có manh nha từ trước, trời đất không thể nóng lạnh ngay tức khắc mà phải chuyển biến dần dần từ mùa xuân qua mùa thu. Bậc nhân quân không thể làm loạn ngay, ắt phải dần dần từ thiện ác. Các thánh vương đời xưa biết thế nên bắt chước trời tu đức sửa mình, bắt chước đất chăm tu đức để an dân. Sửa mình thì trong lòng thận trọng như đi trên lớp băng mỏng, yên dân là kính cẩn công chúng như cầm roi nắm dây cương ngựa. Được như thế thì đâu mà chẳng hưng, nếu trái lại thì đâu mà chẳng vong, sự hưng vong diễn tiến dần dần như vậy. Sư Trang Nghiêm đứng gần dâng vua một bài châm(lời khuyên), vua lúc nào cũng chăm chỉ sống đúng theo lời châm ấy” . (5) 

Trúc Lâm quốc sư.

Khi vua Trần Thái Tông vì những nỗi niềm riêng bèn đến núi Yên Tử gặp Trúc Lâm quốc sư. Qua những lời đối đáp, Trúc Lâm quốc sư bảo vua Trần Thái Tông rằng “Phàm làm đấng nhân quân phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình và tâm thiên hạ làm tâm của mình ”. (6) 

Thiên hạ tức chỉ cho nhân dân, lời khai thị Trúc Lâm quốc sư lấy nhân dân làm gốc, đề cao giá trị nhân văn, đạo đức, sự quan tâm, thương yêu của một bậc minh quân đối với con dân. Ở ngôi vị chí tôn, nhà vua phải biết quan tâm, lo lắng đến những nỗi khổ, niềm đau của những người bề tôi, của những người dân tay lấm chân bùn, những thành phần thấp bé trong xã hội phải chịu những nỗi khổ, niềm đau, tủi nhục về thân phận, về sưu thế, về việc cơm ăn, áo mặc, trăm ngàn thứ để lo, để khổ. Một bậc minh quân phải lấy đức để độ sinh, thương dân như con, mà thương dân thì phải hiểu được nỗi niềm của người dân, phải biết ước muốn, nguyện vọng của nhân dân là gì. Đó chính là có được một đời sống an cư lạc nghiệp, được sống trong một đất nước thái bình, không phải sợ sệt trước cảnh khói binh, không lo lắng trước cảnh cướp bóc, hoạn quan, sưu cao, thế nặng. Chính vì thế, một bậc Đế vương cần phải lấy đức để độ dân, thương dân, hiểu dân, phải lấy thiên hạ làm đại cuộc, phải chỉ đạo, hướng dẫn người dân về mọi mặt trong cuộc sống để cho nhân dân nâng cao hiểu biết và nhận thức từ đó có được cuộc sống ấm no, bình an.

  1. Bảo tồn văn hóa- Bảo tồn linh hồn của dân tộc.

Văn hóa là bản sắc riêng của mỗi đất nước, mỗi dân tộc. Người dân Đại Việt luôn giữ gìn nếp sống đạo đức, nhân nghĩa, thuần hậu, lương thiện, chất phác cùng với các đức tính tự cường, tự lập. Dù cho sống dưới sự cai trị hà khắc của phương Bắc, nhưng con dân nước Việt không bị đồng hóa bởi những chính sách và văn hóa ngoại bang, mà một lòng sắt son hướng về hồn thiên sông núi đất trời nước Nam. Giữa những biến loạn về thời cuộc, các thiền sư với tấm lòng yêu nước, đã đảm nhiệm trọng trách bảo tồn văn hóa dân tộc, chùa chiền khi ấy không chỉ là nơi để tu hành mà còn là trường học để bồi đắp tri thức, giúp người dân được học tập tư duy, biết về nguồn cội, biết về bản sắc văn hóa của dân tộc. Các thiền sư, giảng dạy văn hóa, lễ nghi, đạo đức, nhân cách sống cho người dân, chống chính sách ngu dân, không bị đồng hóa bởi phong tục tập quán của ngoại bang. Ngoài ra, các thiền sư còn sáng tác thơ, văn bằng chữ Nôm, góp phần bảo vệ văn hóa của dân tộc Việt lúc bấy giờ. Văn hóa còn là dân tộc còn, thế nên việc bảo tồn văn hóa là điều cấp thiết và việc này đã được các thiền sư đương thời hết lòng thực thi và đã đạt được những thành tựu nhất định. Giặc phương Bắc chỉ đô hộ nước ta bằng vũ khí, thế lực, sức người, sức của nhưng không thể đô hộ, đồng hóa bản sắc văn hóa của nước ta được. Bởi lẽ dân tộc ta yêu văn hóa hơn cả sinh mạng, sẵn sàng hy sinh đấu tranh để giành lại nền độc lập, giữ gìn nguyên vẹn bản sắc văn hóa của dân tộc Đại Việt.

“Ý hướng xây dựng một nền văn hóa Việt Nam độc lập của các thiền sư rất rõ rệt. Về phương diện địa lý, họ đã muốn dời kinh đô tới một nơi có thể dựng nên sự nghiệp độc lập lâu dài. Về phương diện học thuật, họ có công đào tạo một lớp trí thức không cố chấp, biết dung hợp các ý thức hệ dị biệt như Nho, Lão, Phật. Về phương diện văn hóa, họ dựng nên được cả một triều đại thuần từ lấy đức từ bi làm căn bản cho chính trị. Về văn học, họ là những người đóng góp vào vấn đề sáng tác nhiều nhất trong nước, dù phần lớn những sáng tác này nằm trong những chủ đề Phật giáo.Về mỹ thuật, những công trình kiến trúc và điêu khắc của Phật giáo cũng là những đóng góp mỹ thuật, quan trọng nhất trong thời đại” (7) 

“Về phương diện văn hóa Phật giáo đời Trần đã có đóng góp lớn lao. Ưu điểm lớn nhất của Phật giáo là tinh thần khoan dung và tự do. Chính vì đặc tính khoan dung và mềm dẻo của văn hóa đời Trần mà vua quan cùng dân chúng đã đồng tâm cộng tác trong việc chống ngoại xâm và xây dựng đất nước. Văn học đời Trần, rực rỡ và phản chiếu tinh thần từ ái hòa đồng và thanh thoát của đạo Phật. Tinh thần ấy không đi đôi với sự khiếp nhược, yếm thế, trái lại đã đi đôi với tinh thần tự lực, tự cường và tín thủ. Văn học chữ Nôm được hình thành trong đời Trần, nền văn hóa đời Trần mà đạo Phật là cốt tủy, là một nền văn hóa độc lập. Văn học đời Trần thấm nhuần tính cách dung hợp và khai phóng của đạo Phật, nên học vấn đời Trần không bị ràng buộc bởi khoa cử, chính sách tôn giáo của nhà Trần là một chính sách tự do và bình đẳng. Giới sĩ phu dù xuất thân từ truyền thống tôn giáo nào cũng được triều đình đãi ngộ rất hậu, đó là những nguyên nhân khiến cho văn học đời Trần giàu có sáng rỡ và đầy ý thức tự tin, thi ca đời Trần chịu ảnh hưởng thiền học sâu đậm: các thi sĩ nhiều người nhìn sự vật bằng cái nhìn của người biết tĩnh tâm, thiền quán”. (8) 

“Vua Trần Nhân Tông là người rất trọng nền văn hóa dân tộc, chú trọng về văn Nôm, khuyến khích người dân dùng văn Nôm. Chính ngài cũng đã viết nhiều bài thơ phú bằng văn Nôm như bài cư Trần Lạc Đạo Phú hay Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca, văn thơ ngài hay về văn ,mà sâu kính về ý, lời văn, ý thơ thật êm dịu, thực siêu thoát mang tính dân tộc, đạo pháp cao”. (9) 

  1. Tinh thần nhập thế, hộ quốc an dân.

Điểm nổi bật của Thiền tông là ứng dụng linh hoạt, rõ biết thời cuộc, vận thế mà thích ứng, cống hiến, phụng sự cho đất nước. Sứ mệnh hộ quốc an dân của các thiền sư trải qua các triều đại là một minh chứng lịch sử khẳng định Thiền tông là cội nguồn của dân tộc, Thiền tông luôn gắn bó và đồng hành với dân tộc Việt Nam trong mọi hoàn cảnh.

Thiền sư Pháp Thuận (915-990)

“Pháp Thuận là thiền sư đời Tiền Lê,chính sư đã dùng nghệ thuật phù sấm giúp vua Lê Đại Hành (980-1005) nắm quyền bính, chấm dứt tình trạng hỗn loạn nguy hiểm trong triều đình hồi cuối Đinh. Theo Thiền Uyển Tập Anh, sư là người học rộng, có tài phò vua, hiểu rõ thế cuộc đương thời, sư là cố vấn của Lê Đại Hành. Thiền Uyển Tập Anh chép khi nhà Tiền Lê mới sáng nghiệp sư có công luận bàn hoạch định các sách lược bảo vệ, xây dựng đất nước thịnh vượng”. (10) 

Thiền sư Vạn Hạnh

Khi Lê Đại Hành tức vị, Sư từng làm cố vấn cho nhà vua trong việc chống ngoại xâm và dựng nước, được triều đình tin cậy, ca ngợi đạo cao hạnh cả. Năm 980 niên hiệu Thiên Phúc thứ nhất nhà Tống sai tướng Hầu Nhân Bảo đem quân sang xâm lược Đại Việt, kinh đô Hoa Lư bị uy hiếp. Vua Lê Đại Hành rất lo lắng, mời sư đến hỏi tình thế. Sư đáp: “bệ hạ cứ yên tâm, chỉ trong ba đến bảy ngày giặc ắt phải lui”. Sau đó quả đúng như thế. Một lần khác, vua Lê Đại Hành muốn chinh phục Chiêm Thành cùng bàn bạc với triều thần, nhưng ý chưa quyết, sư tâu vua bệ hạ cấp tốc tiến quân kẻo lỡ dịp. Vua nghe lời xuất quân đi đánh quả nhiên, thu được toàn thắng”. (11) 

Trần Thái Tông- ông vua thiền sư(1218-1277).

Trần Thái Tông tên Trần Cảnh, con thứ của Trần Thừa. Trần cảnh mới có tám tuổi được Lý Chiêu Hoàng nhận làm chồng và truyền ngôi cho, lấy hiệu là Trần Thái tông Năm 1257 giặc Mông Cổ xâm lăng đất nước, Thái Tông đích thân tham gia chỉ huy nhiều trận, có mặt ở cả mọi nơi nguy hiểm, khiến quân sĩ đều nức lòng chiến đấu. Kết quả, quân ta đã đánh tan quân xâm lược, giặc Mông Cổ tháo thân chạy về Vân Nam vào đầu năm 1258. Đây là ông vua vừa đạo đức vừa anh hùng làm sáng rỡ những trang sử oai hùng của dân tộc việt”. (12) 

Tuệ Trung thượng sĩ Trần Tung (1230 -1291)

Tuệ Trung thượng sĩ thuộc dòng dõi vương triều nhà Trần, ngài có tên đời là Trần Tung. Trần Tung là vị tướng đã tham gia kháng quân Nguyên Mông cả ba lần (1257-1258, 1285, 1287-1288). Trong lần kháng Mông lần thứ hai vào ngày 18 tháng 6 năm 1285 Ngài đã cùng Hưng Đạo Vương truy đuổi tướng Mông Cổ là Thoát Hoan và Lưu Thế Anh đến sông Như Nguyệt”. (13) 

Trần Thánh Tông -Trần Hoảng (1240-1290)

Ngài là con trưởng Trần Thái Tông, trong 21 năm ở ngôi Thánh Tông đã biết sử dụng nhân tài, chăm lo việc nước, ngài đã thực hành đường lối ngoại giao mềm dẻo nhưng không kém phần kiên quyết để đối phó với mưu đồ xâm lược của nhà Nguyên. Khi không tránh khỏi chiến tranh, ngài đã có sáng kiến triệu tập hội nghị Diên Hồng, phát động tinh thần yêu nước của toàn dân cùng với con là Trần Nhân Tông, ngài trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến Chống Nguyên Mông lần thứ hai và ba góp phần không nhỏ vào các chiến thắng lịch sử năm 1285 và năm 1288 bẻ gãy ý đồ xâm lược của ngoại xâm”. (14) 

Trần Nhân Tông (1258-1308).

“Ngài là con trai của vua Trần Thánh Tông. Ông là một vị vua khoan dung và nhân đạo, một nhà yêu nước, một vị anh hùng của dân tộc. Ông đã đề ra chính sách hợp nhất chính trị. Chủ trương cắt giảm sức lao động của con người, tiến cử và tuyển chọn người tài đức cho đất nước thông qua các kỳ thi cử và mở rộng dân chủ. Trong thời gian trị vì của mình ông đã tổ chức hai hội nghị nổi tiếng là hội nghị Bình Than năm 1282 (giữa vua và các quần thần) và hội nghị Diên Hồng (giữa vua và những bô lão khắp cả nước). Kết quả là 50 vạn quân Mông Nguyên đã bị đánh bại vào năm 1285 và 1288. Ông cũng là nhà thơ lớn và là người sáng lập thiền phái Trúc Lâm trên cơ sở hợp nhất những thiền phái trong nước thời bấy giờ đáp ứng nhu cầu tôn giáo của nhân dân và đóng góp vào việc xây dựng một nước Đại Việt độc lập, văn minh và có sức ảnh hưởng lớn chống lại các thế lực ngoại xâm”. (15) 

  1. Tài đối ngoại của các thiền sư.

Đối ngoại là vấn đề hệ trọng của đất nước, nói lên niềm tự tôn, tự lập của dân tộc. Những người được cử đi đón tiếp các sứ giả là những bậc có học vấn uyên bác, am tường chính trị, sự nhạy bén và quả cảm mới có thể hoàn thành sứ mạng cao cả, hệ trọng này. Các thiền sư lúc bấy giờ thường được các bậc đế vương tin tưởng, đảm đương trọng trách tiếp đón sứ giả đem lại niềm tự hào, vẻ vang cho đất nước Đại Việt.

Thiền sư Pháp Thuận

Thiên Phúc thứ tám năm 987, nhà Tống sai Lý Giác sang sứ nước ta. Sư nhận chỉ của vua cải trang làm người lái đò đi đón sứ Tống. Khi thuyền đang bồng bềnh trên sông, Lý Giác thấy hai con thiên nga bơi trên sông, bất chợt cảm hứng làm thơ, và Thiền sư Pháp Thuận nhân đó mà đối đáp lại ý thơ. Lý Giác nghe vô cùng ngạc nhiên, thán phục tài năng nước Đại Cổ Việt, ngay lái đò cũng hay chữ. Vì thế đến kinh đô Hoa Lư, sứ Tống tiếp vua Lê với thái độ cử chỉ hết sức khiêm nhường. Lý Giác khi về nhà nghỉ của sứ thần đã viết tặng Đỗ Pháp Thuận bài thơ. Thiền sư Pháp Thuận đem bài thơ này dâng vua Lê, vua mời Thiền sư Khuông Việt cho xem và hỏi có ý gì không? Sư tâu câu thứ bảy sứ Tống có ý tôn trọng bệ hạ ngang bằng với vua của họ. Vua Lê khen ý thơ hay ban tặng sứ Tống rất hậu”. (16) 

Phật Hoàng Trần Nhân Tông

“Ý nguyện xây dựng một nền hòa bình Chiêm Việt lâu dài. Tháng 3 năm 1301 Trúc Lâm đi Chiêm Thành để quan sát Phật giáo tại đây. Vua đi với tư cách một du tăng, có một số tăng sĩ tùy tùng vua đã lưu lại đây cho đến tháng 11 mới về. Trong thời gian lưu trú tại Chiêm Thành, vua đã đàm đạo với vua nước Chiêm Thành là Chế Mân . Trong mục đích xây dựng tình hòa hữu giữa hai nước làm nền tảng cho hòa bình lâu dài, Trúc Lâm đã hứa sẽ gả công chúa Huyền Trân cho vua Chàm. Tháng 2 năm 1305 tức là bốn năm sau đó Chế Mân sai Chế Bồ Đài và bộ đảng hơn 100 người đem vàng bạc, hương trầm và các bảo vật sang để cầu hôn. Tháng 6 năm 1306 công chúa Huyền Trân về nhà chồng, vua Chiêm Thành dâng hai châu Ô và Lý làm sính lễ, đến năm 1307 hai châu này được đổi thành hai Châu Thuận và Hóa”. (17)

  1. Những ảnh hưởng của Thiền tông đối với người dân Đại Việt

Tư tưởng của Thiền tông đã đi sâu vào lòng dân tộc và được ứng dụng trong mọi thời cuộc. Khi đất nước lâm vào thời kỳ chiến loạn thì Thiền tông nêu cao chí khí tự cường, tự chủ, độc lập, mạnh mẽ, không khuất phục trước thế lực thù địch. Khi đất nước thái bình Thiền tông lại được ứng hiện qua các đức tính từ, bi, hỷ, xả, vô ngã, vị tha. Các vị vua, quan thâm sâu lý thiền, biết co duỗi tùy duyên, biết khoan dung tha thứ cho những tội nhân và tù binh chính trị để đất nước ngày một yên bình, thịnh trị, nhân dân được sống đời an cư, lạc nghiệp.

Tinh thần từ bi hỉ xả bao dung tha thứ cho tội nhân và tù binh chính trị: 

Vua Lý Thái Tông đã tha tội cho Nùng Trí Cao không giết. Còn vua Lý Thánh Tông cũng đã không giết vua Chiêm Thành là Chế Cũ. Năm 1065 vua Lý Thánh Tông trong một phiên xử kiện ở điện Thiên Khánh đã chỉ vào công chúa Động Thiên đứng hầu bên cạnh mà bảo ngục lại rằng: Lòng ta yêu con ta cũng như lòng cha mẹ dân yêu dân. Dân không biết mà mắc vào hình pháp ta rất lấy làm thương, từ nay về sau không cứ gì tội nặng hay nhẹ đều nhất luật khoan giảm. Cũng nhà vua này vào mùa đông năm ất mùi 1055, trời giá rét đã bảo với các quan, trẫm ở trong cung nào lò sưởi ngự, nào áo lót cầu mà còn rét như thế này. Nghĩ đến người tù giam trong ngục khổ sở về gông cùm, chưa biết rõ ngay gian mà ăn không được no bụng, áo không kín mình, gió rét khổ thân hoặc có kẻ chết không nơi nương tựa ,trẫm rất thương xót. Vậy hạ lệnh cho Hữu ty phát chăn, chiếu và mỗi ngày cho ăn hai bữa cơm. Với những nhà chính trị có từ tâm và những người xuất gia biết lo giáo dục, sự thực hành đạo từ bi trong dân chúng, đời sống xã hội đời Lý trở thành thuần từ và đẹp đẽ đạo đức và từ bi đã không làm cho người dân nghèo, nước yếu trái lại những yếu tố này đã tạo nên phú cường. Những chiến thắng Chiêm Thành và Tống quốc, sự vắng mặt của bạo động trong nhân gian. Và trong cung khuyết, sự gần gũi giữa vua với dân, những điều đó nói lên được đặc tính của xã hội đời Lý. Thiền sư Pháp Thuận đã nói trước điều đó, vận nước như dây quấn, trời Nam ôm thái bình, đạo đức ngự cung điện, muôn xứ hết đao binh. (18)

Sau đại thắng của cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, đất nước được hòa bình, độc lập, hàng triệu trái tim người dân Đại Việt đầy tự hào về đại thắng lợi này và đặc biệt các vua đời Trần đã rất từ bi khoan dung độ lượng cho những người dâng biểu đầu hàng và các tù binh chính trị .

“Sau khi giặc thua chạy về Bắc, triều thần bắt được một tráp biểu hàng giặc của một số quan trong triều trong khi thấy thế giặc mạnh. Triều thần lục ra để trị tội nhưng thay vì cho mở tráp để xét xử, luận tội, xuống hình phạt, Thượng hoàng Trần Thánh Tông sai đem đốt cả tráp hồ sơ đó đi. Đốt cháy tập hồ sơ đen cho yên lòng người có tội, xóa đi tị hiềm để củng cố tình đoàn kết. Nhà vua lại sâu sắc tế nhị hơn trong hành động chính trị nêu cao đức tính chính trị với triều đình với nhân dân và cả với đối phương. Vua Trần Nhân Tông sau chiến tranh đã cho xây các miếu tại các nơi trận địa đẫm máu để thờ phượng vong linh những chiến sĩ trận vong, kể cả ta và địch. Việc làm này của vua Trần là xuất phát từ lòng thương con người một cách chân chánh nhưng tác động trong đường lối chánh trị không phải nhỏ đối với triều đình ta và đối với triều đình đối phương. Tháng 2 năm 1289 vua Trần Nhân Tông lại sai quan đưa trả tướng nhà Nguyên bị bắt là Tích Lệ và Cơ Ngọc về nước. Riêng tướng Phân Tiếp bị bệnh chết, vua sai đem hỏa táng rồi cấp người ngựa cho vợ con đem hài cốt về nước, các đầu mục cũng tha cho về cả “. (19)

  1. Thiền tông đối với sự nghiệp bảo vệ đất nước thời hiện đại (thế kỷ XX đến nay).

Chiến thắng lịch sử trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền giúp đất nước ta được độc lập. Trải qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Nguyễn, dân tộc Đại Việt từng bước xây dựng nền độc lập và đồng lòng cùng nhau đứng lên bảo vệ đất nước qua các cuộc kháng chiến chống quân Tống, quân Nguyên Mông, quân Minh… cho đến thời cận đại đất nước Việt Nam lại trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Toàn dân tộc cùng nhau đoàn kết, đứng lên đấu tranh giành lại độc lập trong đó có các vị tăng sĩ nối tiếp thế hệ các bậc thiền sư thuở trước, dấn thân phụng sự cho đất nước để cho lá cờ đỏ sao vàng mãi tung bay trên bầu trời nước Việt. 

Thiền sư Thiện Chiếu

Thiện Chiếu tên đời là Nguyễn Văn Sáng, có lúc thì tên Nguyễn Văn Tài. Ông có bí danh là Xích Liên, bông sen đỏ, sinh năm 1898 tại Gò Công. Thiện Chiếu là một người đầy nhiệt huyết, vừa yêu mến đạo Phật, vừa có lý tưởng cách mạng. Năm 1940 ông tham dự vào phong trào Nam Kỳ Khởi Nghĩa ở Hóc Môn Bà Điểm. Năm 1942 ông bị mật thám Pháp bắt được đày đến côn đảo ông bị tra tấn đến bại xuội. Sau Cách Mạng Tháng Tám năm 1945 ông được trở về đất liền. Trong thời kháng Pháp ông làm tỉnh ủy Tỉnh Gò Công. Năm 1954 ông đi tập kết ra Bắc”. (20)

Thiền sư Mật Thể

Thích Mật Thể là một tăng sĩ trẻ thông minh, tài năng và nhiều chí khí. Ông tên đời là Nguyễn Hữu Kê, sinh năm 1912. Tháng giêng năm 1946 khi chính phủ lâm thời tổ chức tổng tuyển cử, ông đã can đảm đứng ra ứng cử ở Thừa Thiên. Ông được đắc cử làm đại biểu tại quốc hội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Đây là lần đầu tiên một vị tăng sĩ Việt Nam trực tiếp đi vào chính trị, việc ra ứng cử quốc hội của Mật Thể phản chiếu lòng yêu nước và sự ủng hộ cách mạng của giới Phật tử tuổi trẻ”. (21)

Thiền sư Trí Độ

Thiền sư Trí Độ, hội trưởng Phật giáo thống nhất. Tên đời là Nguyễn Kim Ba, sinh năm 1895, tại làng Phổ trạch, tham dự vào phong trào Phật giáo cứu quốc từ năm 1945, ông được bầu cử làm ủy viên ủy Ban Liên Việt tại Thanh Hóa năm 1950 và năm 1953. Ông được nhà nước chỉ định làm ủy viên ủy Ban Việt Nam bảo vệ Hòa Bình thế giới. Ông lại được giữ chức vụ ủy viên ban thường vụ của quốc hội Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa các khóa 2,3,4 và 5. Năm 1975 ông được vào Sài Gòn, thăm chùa Ấn Quang và viện đại học Vạn Hạnh. Ông tịch ngày 24 tháng 10 năm 1979 tại Hà Nội và đã được nhà nước ban Huân chương độc lập hạng ba và huân chương kháng chiến hạng nhì”. (22)

Đất nước Đại Việt đã trải qua các thời kỳ, từ đô hộ, chiến tranh, chiến loạn với cảnh nước mất nhà tang, nhân dân thống khổ, cho đến toàn quân dân cùng nhau đoàn kết đấu tranh giành lại độc lập, tự do thì niềm hạnh phúc bình an tràn ngập trong lòng người con nước việt. “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là câu nói bất hủ của Chủ Tịch Hồ Chí Minh và là ước vọng muôn thuở của người dân nước Việt. Năm 1975 đất nước hoàn toàn độc lập, thống nhất, người dân nước Việt bắt đầu xây dựng lại nếp sống, tích cực tham gia vào các hoạt động sản xuất công- nông nghiệp, phát triển kinh tế, văn hóa. Cho đến ngày nay, trong thế kỷ 21, thời kỳ hội nhập, phát triển về công nghệ số, Việt Nam là một đất nước có nhiều tiềm năng phát triển về mọi mặt kinh tế, văn hóa chính trị thì Thiền tông vẫn mang giá trị nhập thế hộ quốc an dân. Trước sự phát triển của mạng xã hội, với vô vàn thông tin, tích cực, tiêu cực, lợi ích, độc hại… và sự công kích từ các thành phần bất hảo. Thiền tông giúp mọi người sống tỉnh thức, xoay về bản thể chân tâm, Phật tại tâm, khi tâm định tĩnh, sáng suốt sẽ không mù quáng chạy theo, tin theo những thông tin sai lệch, chưa được kiểm chứng, giữ vững niềm tin đối với đất nước, phát huy vai trò và trách nhiệm của một người công dân đối với đất nước. Thiền tông gắn kết mọi người với nhau thông qua các đức tính từ, bi, hỷ, xả, tạo nên một cộng đồng, một quốc gia từ ái, bao dung, biết yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau. Khi đã có tình thương, sự hiểu biết thì mỗi người, trong từng vị trí, trách nhiệm của mình sẽ cống hiến, phụng sự cho quốc gia bằng chính khả năng, công sức của mình, góp phần xây dựng một đất nước văn minh, giàu đẹp. Ngoài ra, thiền tông còn hướng dẫn cho người dân sống theo con đường thiện lành đạo đức, có ích cho đời, cho đạo thông qua các buổi lễ quy y, thọ bát quan trai, các khóa tu tập và thiền tông cũng tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội như cứu trợ đồng bào lũ lụt, thiên tai, xây dựng nhà tình thương, Tuệ tĩnh đường phát thuốc chữa bệnh cho người nghèo ... Với tinh thần tùy duyên, tùy thuận theo hoàn cảnh và nhân duyên người dân biết sống hài lòng với những gì mình đang có, không có những tâm tật đố, sân si, tham lam từ đó xây dựng tình thương, tình đoàn kết giữa người với người. Dù trong thời đại nào xưa hay nay, Thiền tông luôn đồng hành cùng với dân tộc và giá trị của thiền tông là mang lại lợi ích thực tiễn cho người dân, giúp cho nhân dân có được đời sống an, cư lạc nghiệp, đất nước ngày một phát triển, văn minh.

C. KẾT BÀI

Chiến tranh đã qua, hòa bình độc lập đã trở về trên khắp mọi miền đất nước. Nhìn lại quá trình đấu tranh bảo vệ đất nước, Thiền tông luôn có mặt và gắn bó với dân tộc Đại Việt và đã để lại vô vàn di sản cho đất nước Đại Việt trong sự nghiệp bảo vệ đất nước. Một tông phái tồn tại và phát triển trong lòng dân tộc suốt mấy ngàn năm đã nêu cao tinh thần đạo -đời gắn kết, đồng hành cùng nhau, xây dựng và kiến lập một đất nước văn minh, giàu đẹp. Di sản thiền tông- Những giá trị của thiền tông đối với sự nghiệp bảo vệ đất nước là một minh chứng lịch sử trường tồn với thời gian, là những tinh túy mà thế hệ các thiền sư bằng trí tuệ, tài năng thông suốt cổ kim, binh thư yếu lược… đã đóng góp cho sự nghiệp bảo vệ đất nước. Ngày nay đất nước hòa bình, phát triển về mọi mặt. Khi đọc lại sử xưa, ta càng thấy tự hào về đất nước, dân tộc và cảm phục, biết ơn những giá trị mà Thiền tông đã đóng góp cho công cuộc bảo vệ đất nước, từ đó mỗi người phải dặn lòng phải cố gắng sống tốt đời, đẹp đạo, tiếp nối các thế hệ cha ông, noi theo gương hạnh của các thiền sư mà sống hết lòng cống hiến dấn thân phụng sự cho đất nước dân tộc Việt Nam.

TÀI LIỆU THAM KHẢO.

(1). Nguyễn Lang, 2000, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I-II-III, NXB Văn Học, Hà Nội, trang 136,137.

(2). Nguyễn Lang, 2000, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I-II-III, NXB Văn Học, Hà Nội, trang 137,138.

(3). Thích Thanh Ninh- Nguyễn Thế Vinh- Đinh Thế Hinh, 2002, Thiền Tăng Truyện Ký, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, trang 43.

(4). Thích Thanh Ninh- Nguyễn Thế Vinh- Đinh Thế Hinh, 2002, Thiền Tăng Truyện Ký, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, trang 101,103,104.

(5). . Thích Thanh Ninh- Nguyễn Thế Vinh- Đinh Thế Hinh, 2002, Thiền Tăng Truyện Ký, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, trang 188, 189, 190.

(6). HT. Thích Thanh Từ, 2017, Khóa Hư Lục, NXB Văn Hóa-Văn Nghệ, Thành Phố Hồ Chí Minh, trang 20.

(7). Nguyễn Lang, 2000, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I-II-III, NXB Văn Học, Hà Nội, trang 189.

(8). Nguyễn Lang, 2000, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I-II-III, NXB Văn Học, Hà Nội, trang 390, 391, 392, 393.

(9). Phước Tú Biên soạn, 2020, Lịch Sử Đạo Phật Việt Nam, NXB Hồng Đức, Hà Nội, trang 431.

(10). Thích Thanh Ninh- Nguyễn Thế Vinh- Đinh Thế Hinh, 2002, Thiền Tăng Truyện Ký, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, trang 56.

(11). Thích Thanh Ninh- Nguyễn Thế Vinh- Đinh Thế Hinh, 2002, Thiền Tăng Truyện Ký, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, trang 101,102.

(12). HT. Thích Thanh Từ, 2020, Thiền Sư Việt Nam, NXB Hồng Đức, Hà Nội, trang 237,241.

(13) ). Phước Tú Biên soạn, 2020, Lịch Sử Đạo Phật Việt Nam, NXB Hồng Đức, Hà Nội, trang 581.

(14). ). Phước Tú Biên soạn, 2020, Lịch Sử Đạo Phật Việt Nam, NXB Hồng Đức, Hà Nội, trang 710.

(15). TS. Thượng Tọa Thích Tâm Đức, 2021, Đường đến Thiền Phái Trúc Lâm Tại Việt Nam, NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội, trang 145,146.

(16). Thích Thanh Ninh- Nguyễn Thế Vinh- Đinh Thế Hinh, 2002, Thiền Tăng Truyện Ký, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, trang 56,57,58.

(17). Nguyễn Lang, 2000, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I-II-III, NXB Văn Học, Hà Nội, trang 283.

(18). Nguyễn Lang, 2000, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I-II-III, NXB Văn Học, Hà Nội, trang 199,200,201.

(19). Phước Tú Biên soạn, 2020, Lịch Sử Đạo Phật Việt Nam, NXB Hồng Đức, Hà Nội, trang 423,424.

(20). Nguyễn Lang, 2000, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I-II-III, NXB Văn Học, Hà Nội, trang 802,805.

(21) Nguyễn Lang, 2000, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I-II-III, NXB Văn Học, Hà Nội, trang 903,906,907.

(22). Nguyễn Lang, 2000, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I-II-III, NXB Văn Học, Hà Nội, trang 983,984.

Bình luận
Gửi bình luận của bạn

Danh bạ website Phật giáo
Sự kiện - Hội thảo
  • Về Thiền học khởi nguyên của Phật Giáo Việt Nam
  • Giới thiệu sách - Tìm người trong hơi thở
  • Chuyện xưa... mai trắng Hà thành
  • Đôi dòng xúc cảm
  • 108 Lời tự tại – Nâng cao phẩm chất cuộc sống
  • Ai trộm chuỗi tràng hạt của Phật?
  • Em nên đi tu hay lấy chồng?
  • Trần Nhân Tông – đức Vua, Phật hoàng của dân tộc Việt
  • Bình an giữa cuộc đời
  • Ăn và Đạo Pháp

Đăng ký bản tin