Chi tiết tin tức

Nguồn gốc Phật giáo của nhà Lê qua "Lam Sơn thực lục"

15:36:00 - 23/09/2026
(PGNĐ) -  Lam Sơn thực lục là một trong những sử liệu quan trọng nhất của nước ta.

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ dựa trên việc phân tích so sánh hai văn bản Lam Sơn thực lục để đưa ra một số nhận định về nguồn gốc Phật giáo của nhà Hậu Lê, từ đó đặt một số cơ sở trong việc tái nhận định diện mạo Phật giáo Việt Nam trong lịch đại.

1. Giới thiệu

Thực lục là thể loại sử liệu được lưu truyền riêng trong nội bộ hoàng thất, không được phổ biến trong dân gian, để dạy cho con cháu hoàng gia về các sự kiện của tổ tiên mình. Nội dung của nó có thể đề cập đến các vấn đề được triều đại đó xem là cơ mật hơn những điều được nói trong các bộ sử phổ thông. Song, cũng bởi phạm vi phổ biến hẹp nên nó có nguy cơ bị thất lạc hoặc khiếm khuyết qua các lần thay triều đổi đại. Thực lục, do vậy, là tài liệu quý hiếm và có độ tin cậy cao trong nghiên cứu lịch sử. 

Có những ý kiến cho rằng Phật giáo sau thời cực thịnh ở triều Lý và Trần đã bắt đầu bị lạnh nhạt và bước vào thoái trào kể từ thời nhà Lê, với sự trọng thị Nho học(1). Tuy nhiên, qua văn bản của Lam Sơn thực lục, chúng ta lại thấy rằng triều đại này có một mối liên hệ không nhỏ đối với Phật giáo. 

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ y cứ chính yếu trên văn bản thực lục này mà chỉ ra nguồn gốc Phật giáo của nhà Lê, cụ thể là triều đại này vốn xuất thân từ tu sĩ Phật giáo và luôn có một thái độ trọng thị đối với đạo Phật. Điều này không chỉ có ý nghĩa định danh lại nền Phật giáo cư sĩ Việt Nam trong quá khứ mà còn đặt cho ta vấn đề cần phải tái nhận định lại tư tưởng của triều Lê cũng như tư tưởng của dân tộc thông qua các sử liệu đáng tin cậy.

2. Các dị bản khảo sát và các công trình nghiên cứu liên quan

Lam Sơn thực lục được Lam Sơn động chủ đề tựa năm Thuận Thiên 4 (1431), Hồ Sĩ Dương đề tựa cho lần trùng san năm Vĩnh Trị thứ nhất (1676). Theo thông tin được hệ thống trong Từ điển văn học bộ mới, sách Lam Sơn thực lục, được biên soạn vào khoảng năm 1431, kể về nguồn gốc gia thế, thời kỳ dựng nghiệp và quá trình khởi nghĩa đánh bại quân Minh của nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi (1385-1433) chỉ huy. Người ta vẫn chưa thể xác quyết về tác giả của tác phẩm này, và phân làm hai thuyết, Lê Lợi hoặc Nguyễn Trãi (1380-1442)(2).

Có nhiều truyền bản của Lam Sơn thực lục mà ta ngày nay còn biết. Chẳng hạn, bản Trùng san Lam Sơn thực lục do Hoàng Xuân Hãn sưu tầm, in năm Vĩnh Trị nguyên niên (1676); bản Lam Sơn thực lục do Nguyễn Diên Niên sưu tầm, chép tay vào khoảng năm 1715; các bản chép tay ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm và những bản được phát hiện sau này(3).

Trong các văn bản Lam Sơn thực lục còn lưu truyền đến thời nay, chúng tôi chọn hai bản để khảo sát trong bài viết này vì tính đặc thù của chúng trong việc tỷ giảo và chứng minh luận đề. Một là bản Lam Sơn thực lục chép tay do nhà Lê Sát lưu truyền (từ đây sẽ gọi là “bản nhà Lê Sát”). Hai là bản in Trùng san Lam Sơn thực lục (từ đây sẽ gọi là “bản trùng san”). Hai bản này đều đã được các học giả hiện đại khảo sát kèm theo nguyên bản. Bản nhà Lê Sát được Nguyễn Diên Niên khảo chứng và Lê Văn Uông chú dịch(4). Bản trùng san do Trần Nghĩa giới thiệu, được Mai Quốc Liên chủ biên, in chung trong Nguyễn Trãi toàn tập tân biên năm 2001(5).Bản trùng san này cũng được Hoàng Văn Lâu chú dịch năm 2007 với nhiều kiến giải mới(6). Trong cách tham chiếu dưới đây, bản nhà Lê Sát chúng tôi sẽ sử dụng số tờ đánh theo nguyên thủ bản; còn bản trùng san, để tiện tham khảo, chúng tôi đánh số trang theo số trang của bản in Nguyễn Trãi toàn tập tân biên 2.

Cả hai bản Lam Sơn thực lục này đều cung cấp cho ta một số chi tiết để phác họa sự liên hệ giữa nhà Lê với Phật giáo về mặt nguồn gốc. Các luận chứng này có độ mạnh và trực tiếp khác nhau. Tuy nhiên, để tiện theo dõi, trong những phần tiếp theo đây, chúng tôi sẽ trình bày chúng theo thứ tự xuất hiện trong văn bản. Ở mỗi chi tiết như vậy, sự tỷ giảo giữa hai bản Lam Sơn thực lục cũng sẽ được nêu chi tiết trước khi trình bày các lập luận dựa trên các dữ kiện này. Những tham chiếu bổ sung từ các sử liệu đồng đại hoặc lịch đại khác để củng cố các lập luận này cũng được nêu trong phần tương ứng.

Lam Sơn thực lục

Lam Sơn thực lục

3. Một ý nghĩa của từ “sư công”

Ở những trang đầu, khi nói về dòng dõi tiên tổ của Lê Lợi, bản nhà Lê Sát, tờ 6a9-b1 viết: 藍山峝主。朕皇曾祖姓黎諱誨…性資質直。守己如愚。覩事於未形。智深而慮遠…以師公為業。 Chúng tôi dịch là: Lam Sơn động chủ, hoàng tằng tổ của trẫm họ Lê tên Hối… Tính tư chất trực, giữ mình như người ngu, thấy rõ sự việc khi chưa xảy đến, nghĩ sâu lại lo xa… Làm nghề ông sãi.

Đoạn này, bản trùng san trang 227, dòng 2-5 viết với một vài sai khác nhỏ, không đáng kể và không ảnh hưởng đến câu dịch, như sau: 帝皇曾祖姓黎諱誨…性資質直。守己如愚。覩事於未形。知深而慮遠…以師公為業。

Từ “sư công” 師公 ở đây là một từ khóa quan trọng. Nó cung cấp manh mối đầu tiên về nguồn gốc Phật giáo của nhà Lê. Tuy nhiên, từ này có nhiều tranh cãi về cách dịch khiến nó trở thành bằng chứng không mạnh cho quan điểm này. Ta có thể đơn cử một vài quan điểm dịch khác nhau ở đây. Mạc Bảo Thần dịch chữ này là “ông thày”(7). Văn Tân dịch là “thầy cúng”(8). Lê Văn Uông dịch là “thầy học”(9). Trần Nghĩa dịch là “ông thầy” và có chú thích rằng: “Nguyên văn: ‘sư công’, có sách dịch là ‘thầy cúng’ (NTTT, tr.34), có sách dịch là ‘thầy học’ (LSTL, bản do Nguyễn Diên Niên mới phát hiện, gọi tắt là bản NDN, tr.236), không rõ căn cứ vào đâu. Chúng tôi theo mặt chữ, tạm dịch là ‘ông thầy’ (Mạc Bảo Thần trong LSTL, tr.17, cũng dịch như thế)”(10). Hoàng Văn Lâu, do những phát hiện mới về dòng tộc của Lê Lợi, đã dịch là ‘thầy mo’, và chú thích rằng: “Nguyên văn: ‘sư công’, có sách dịch là ‘ông thầy’, có sách dịch là ‘thầy học’”(11).

Ta cũng biết thêm rằng, “Hoàng Lê ngọc phả” cũng ghi Lê Hối làm nghề “sư công” và cho biết thêm, ông “kiếm ăn bốn phương, giỏi việc dạy bảo, nhiều người thành đạt, người ta nhân đó gọi là Hối”(12). Tuy nhiên, chữ dạy bảo (giáo hối) được dùng ở đây có thể hiểu là dạy học theo kiểu Nho giáo, hoặc cũng có thể hiểu là hóa độ theo kiểu Phật giáo.

Ta nên biết rằng nhà Lê có cách dùng từ không chuẩn mực theo quy ước của Nho giáo. Chẳng hạn, Lê Thánh Tông, người được cho là vị vua sùng thượng văn học nhất của triều đại này, lại có lúc xưng mình là “quốc hoàng”. Điều này bị vua Tự Đức phê bình là “trái nghĩa và quê mùa”(13). Hơn nữa, Lam Sơn thực lục là tác phẩm viết vào thời kỳ đầu của triều đại, khi mà hầu hết vua quan đều là võ phu, và chưa hẳn đó hoàn toàn là tác phẩm của Nguyễn Trãi. Do vậy, ý nghĩa của các từ trong văn bản này không thể chỉ đơn thuần giải theo nghĩa từ điển hay cách dùng từ chuẩn mực của Nho học. Để xác định một ngữ nghĩa khả dĩ cho từ ngữ ở đây, ta trước hết xét các gợi ý trong văn bản, rồi thử tìm ý nghĩa của nó như đã xuất hiện trong các văn bản đồng đại và lịch đại, sau đó dùng những yếu tố khác để củng cố suy đoán về ý nghĩa này.

Ý nghĩa của từ “sư công” này không có manh mối trực tiếp từ đoạn văn bản trên. Hiện chúng tôi vẫn chưa tìm được ở bất cứ văn bản đồng đại nào khác có dùng từ này. Tuy nhiên, ta thấy từ này có xuất hiện trong bài Cúc thu bách vịnh 1 của Phan Huy Ích gửi cho Ngô Thì Nhậm, viết vào khoảng năm 1796, nguyên dẫn như sau:

Tết Trùng cửu đến, sực nhớ câu thơ cổ “Trần thế ký phùng khai khẩu tiếu” của người đời Đường liền nén bệnh gượng dậy làm thịt dê [hay thịt cừu?], hâm rượu, định đến bồi tiếp ở đình Thưởng Liên. Nhưng lại vừa nghe nói thai huynh vì mệt phải kiêng rượu. Tôi không dám đường đột, đành chỉ cùng bọn Mỵ Anh rót rượu với nhau. Trong lúc ngà ngà say, ngẫu nhiên ngâm thành một bài thơ luật, xin viết trình đây, mong được thai huynh sửa cho.

澹蕩秋容入畫堂

Loáng thoáng màu thu lọt vào nhà vẽ

殘荷弱柳映池塘

Sen tàn liễu yếu ánh khắp ao hồ

招朋且酌淵明酒

Mời bạn hãy rót chén rượu Uyên Minh

觸興還哦小杜章

Hứng lên lại ngâm thơ Tiểu Đỗ

雪㸃盈頭驚老景

Tuyết điểm đầy đầu, nhìn mà sợ hãi cảnh già

金花滿座惜重陽

Hoa vàng khắp chỗ ngồi, ngắm càng tiếc buổi Trùng dương

竹林禪味宜岑寂

Trúc Lâm thiền vị ưa cảnh vắng

敢訪師公攝養方。

Dám hỏi sư ông cách tu thế nào(14).

Trong bài này, Phan Huy Ích gọi Ngô Thì Nhậm, anh vợ mình, là “sư công”. Ta biết khi này, Ngô Thì Nhậm đã đi tu theo Phật giáo. Thật vậy, trong bài Cảm hứng họa Thị Ngự công chi tác, Ngô Thì Nhậm có họa lại bài thơ trên của Phan Huy Ích, với nguyên dẫn như sau:

Gặp tiết Trùng cửu, ốm ngồi ngắm cảnh, cảm thấy rất buồn. Tiếp được thơ ông đưa tới, bất giác tinh thần phấn chấn, bèn lạm nối vần, kính gửi sang ông, mong ông xem tới và sửa lại cho thì thật là điều vinh hạnh.

鳳仙香馥鳳儀堂

Hoa phụng tiên thơm nức nhà phụng nghi

月滿庭階雪滿塘

Trăng [soi sáng] khắp thềm sân, tuyết phủ đầy ao

興到羨公頻有酒

Khen ông lúc hứng lên, vẫn thường có rượu

病來笑我彊成章

Cười cho tôi khi ốm yếu, vẫn gượng làm thơ

敘傳馮樂低瀛國

Thuật lại chuyện vui họ Phùng, coi thường Doanh quốc

才軋周難薄首陽

Tài khó át [bầy tôi] nhà Châu, xem rẻ việc ẩn ở Thú Dương

禪院欲禪禪未穩

Nơi thiền viện muốn tu thiền mà tu chưa ổn

叩關纖手撓多方。

Vì có bàn tay nhỏ gõ cửa, nhiều phen quấy rầy(15).

Xét trên mối quan hệ anh vợ - em rể và đồng liêu giữa hai người, cũng như bối cảnh Ngô Thì Nhậm chẳng phải thầy đồ, chẳng phải thầy cúng, mà là người đang nương chốn thiền môn, vậy thì chữ “sư công” trong lối xưng hô này chỉ có thể chỉ cho người tu Phật. Dù hai hoàn cảnh là khác nhau, nhưng nó cũng gợi ý cho ta rằng chữ “sư công” trong Lam Sơn thực lụccũng có thể được hiểu theo nghĩa là người tu Phật. Do vậy, ở đây, trong cách dịch của mình, chúng tôi cho đó có nghĩa là “ông sãi”. Tuy nhiên, trong các cách dịch đã có, chúng tôi không thấy cách nào đề cập đến ý nghĩa này, có lẽ là vì người ta mặc định cho rằng người tu Phật là người cắt ái ly thân, không thể có con có cháu. Đó không hẳn là sự thật đã diễn ra trong lịch sử của đất nước này(16). 

Cho đến tận thế kỷ XVIII, tài liệu Opusculum de sectis apud Sinenses et Tunkinenses do Adriano di St. Thecla viết vào khoảng năm 1750(17), vẫn còn chỉ ra rằng, Việt Nam có hai hạng người tu theo Phật giáo ở trong chùa. “Một số đàn ông có vợ, số khác thì không; những người có vợ được gọi là Sãi Chùa; những người không có vợ thì gọi là Thầy Tu”. Những chữ in nghiêng là thuộc về nguyên bản. Đành rằng, ai đó có thể cho Adriano di St. Thecla, cũng như các nhà truyền giáo thuở sơ thời tại Việt Nam, có thể có những nhận định chưa hoàn toàn chuẩn xác, nhưng với tư cách một chứng nhân lịch sử, ý kiến của ông vẫn có giá trị nhiều hơn các đoán định của hậu thế.

Theo cách phân loại này, chữ “sư công” trong Lam Sơn thực lục hoàn toàn có khả năng chỉ cho ông thầy tu, nhưng vẫn có vợ có con. Tuy nhiên, nếu chỉ có vậy thì vẫn chưa đủ để chúng ta có thể khẳng định được bất cứ điều gì. Chúng ta sẽ cần thêm những bằng chứng và luận giải khác ở những phần tiếp theo của bài viết để củng cố cho ý nghĩa này.

Nhà bia Vĩnh Lăng
Nhà bia Vĩnh Lăng

4. Gia nghiệp tổ tiên Lê Lợi

Để tiếp tục làm rõ ý nghĩa của từ “sư công” cũng như nguồn gốc của Lê Thái Tổ, chúng ta sẽ khảo sát tiếp về gia nghiệp của dòng họ này trong sự đối sánh giữa hai dị bản. Lam Sơn thực lục cho chúng ta biết câu chuyện từ đời cụ nội của Lê Lợi, tức sư công Lê Hối, người đã dựng nên sản nghiệp, cho đến đời của anh em Thái Tổ.

Bản nhà Lê Sát tờ 6b2f phần viết về cụ nội của Lê Lợi như sau: 於是披荊棘。闢田疇。躬勤稼穡。三年而成産業。子孫日蕃。奴隸日衆。其建邦啓土實基於此焉。自是世為一方君長。 Nghĩa là: Thế rồi [cụ tự tay] phát gai góc, khai khẩn ruộng nương, đích thân cấy hái siêng năng, ba năm thì nên sản nghiệp. Con cháu ngày một đông, tôi tớ ngày một nhiều, việc dựng nước mở đất, thực từ ấy mà nên. Từ đấy, đời đời làm quân trưởng một miền.

Bản trùng san trang 227 dòng 7 đến trang 228 dòng 1 viết với một vài sai khác nhỏ, không đáng kể và không ảnh hưởng đến câu dịch, như sau: 於是披荊棘。闢田疇。躬勤稼穯。三年而産業成。子孫日蕃。奴

Nguồn: NSGN

Bình luận
Gửi bình luận của bạn

Danh bạ website Phật giáo
Sự kiện - Hội thảo
  • Về Thiền học khởi nguyên của Phật Giáo Việt Nam
  • Giới thiệu sách - Tìm người trong hơi thở
  • Chuyện xưa... mai trắng Hà thành
  • Đôi dòng xúc cảm
  • 108 Lời tự tại – Nâng cao phẩm chất cuộc sống
  • Ai trộm chuỗi tràng hạt của Phật?
  • Em nên đi tu hay lấy chồng?
  • Trần Nhân Tông – đức Vua, Phật hoàng của dân tộc Việt
  • Bình an giữa cuộc đời
  • Ăn và Đạo Pháp

Đăng ký bản tin