Chi tiết tin tức

Huyền Trân công chúa và vấn đề mở rộng lãnh thổ về phía Nam của Đại Việt

15:10:00 - 28/09/2026
(PGNĐ) -  Dưới thời Văn Lang, cương vực của nước ta theo như Đào Duy Anh xác định là: “Phía Bắc của Văn Lang - Âu Lạc lấn vào miền Nam tỉnh Quảng Tây ngày nay.

Công chúa Huyền Trân

1. Lãnh thổ nước ta trước thời Trần

Biên giới phía Nam thì đến Hoành Sơn. Biên giới phía Tây thì không được rõ rệt như thế. Có lẽ là miền thượng lưu sông Đà, sông Mã, sông Chu, sông Lam, một dải dọc biên giới Việt - Lào ngày nay”(1). 

Trong giai đoạn Bắc thuộc, lãnh thổ nước ta thời kỳ này nằm dưới sự chiếm đóng của chính quyền phong kiến Trung Hoa, về phía Nam đến vùng Hà Tĩnh hiện nay (có thời điểm cai trị Giao Chỉ hoặc Giao Châu), tiến xuống phía Nam đánh Chiêm Thành và sáp nhập vùng đất từ đèo Ngang đến đèo Hải Vân vào cai trị nhưng không giữ được lâu vì sau đó Chiêm Thành đã lấy lại được.

Năm 905, Khúc Thừa Dụ xưng Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân, thực hiện từng bước việc độc lập tự chủ cho dân tộc. Lãnh thổ Tĩnh Hải quân gồm 12 châu là: Giao, Lục, Phúc Lộc, Phong, Thang, Trường, Chi, Vũ Nga, Vũ An, Ái, Hoan, Diễn. 

Năm 938, sau thắng lợi của dân tộc đánh bại quân Nam Hán tại trận Bạch Đằng, nước ta chính thức bước vào kỷ nguyên độc lập. Tuy nhiên lãnh thổ lúc này chỉ còn lại tám châu là: Giao, Lục, Phúc Lộc, Phong, Trường, Ái, Hoan, Diễn. Bốn châu bị nhà Nam Hán chiếm là Thang, Chi, Vũ Nga và Vũ An.

Năm 981, nhà Tiền Lê đánh bại quân Champa và thu được châu Địa Lý (vùng Quảng Ninh, Quảng Bình). Champa đã phải dời kinh đô Indrapura từ miền Đồng Dương vào thành Phật Thệ (Vijaya, Bình Định ngày nay).

Ở thế kỷ XI, Champa phát triển mạnh, nhiều lần đem quân đánh nhà Lý. Năm 1069, Lý Thường Kiệt được vua Lý giao cho dẫn 5 vạn quân đi đánh Champa và giành thắng lợi, bắt được vua Champa là Rudravarman III (Chế Củ hay Đệ Củ), vua Champa phải cắt ba vùng Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh cho Đại Việt để được thả về nước. Chế Củ được đem về kinh đô Thăng Long. Chế Củ đã xin dâng ba châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh để được chuộc tội(2). Sự kiện này được nhiều bộ sử lớn ghi lại (Đại Việt sử ký toàn thư, NXB.Văn Học, Hà Nội, 2009, tr.197; Việt sử lược, NXB.Thành phố Hồ Chí Minh, 1993, tr.51-52; Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, NXB.Giáo Dục, Hà Nội, 1998, tr.136-137). Xin dẫn đoạn của Việt sử lược chép lại sự kiện này: “Mùa xuân, tháng 2, ngày Mậu Tuất vua xuống chiếu thân chinh đến nước Chiêm Thành. Ngày Đinh Mùi, vua thề ở nơi Long Trì... Ngày Ất Sửu sai bọn Hoàng Tiệp trong hàng Đại Liêu Ban đánh cửa biển Nhật Lệ thắng lợi... Ngày Bính Tý đóng quân ở Thị Lợi Bì Nại, có cái hiện tượng là hai con chim đều bay theo thuyền vua như thể dẫn đường vậy. Đại quân tiến lên trước đóng ở bờ sông Tu Mao thấy tướng Chiêm Thành là Bố Bì Dà La đang bày trận ở bờ sông. Quan quân xông ra đánh, chém Bố Bì Dà La, quân Chiêm chết vô số. Chúa Chiêm Thành là Đệ Củ nghe quân bị thua bèn dắt vợ con ban đêm lẫn trốn. Đêm ấy, quan quân kéo rốc vào thành Phật Thệ, đến bến Đồng La, dân ở thành Phật Thệ xin hàng. Mùa hạ, tháng 4, Nguyên soái Lý Thường Kiệt bắt được Đệ Củ ở biên giới Chân Lạp”(3). 

Như vậy, lãnh thổ về phía Nam của Đại Việt thời Lý được mở rộng thêm ba vùng Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh. Theo lời chú của Khâm định Việt sử thông giám cương mục thì vùng Bố Chính gồm các huyện Bình Chính, Minh Chính, Bố Trạch (Quảng Bình); theo Đào Duy Anh vùng này ngày nay là hai huyện Quảng Trạch (Bình Chính và Minh Chính hợp lại) và Bố Trạch; Phan Khoang bổ sung thêm huyện Tuyên Hóa gồm các vùng phía Bắc Quảng Bình chạy dài từ Hoàng Sơn đến Sông Gianh. Vùng Địa Lý, theo cương mục sau này là phủ Quảng Ninh; Phan Khoang bổ sung thêm huyện Lệ Thủy, là các huyện phía Nam sông Gianh của tỉnh Quảng Bình bây giờ. Vùng Ma Linh sau đổi thành Minh Linh, tương đương với hai huyện Gio Linh và Vĩnh Linh (Bắc Quảng Trị) ngày nay(4).

2. Cuộc hôn nhân Huyền Trần - Chế Mân và vấn đề mở rộng lãnh thổ về phía Nam của Đại Việt

Dưới thời Trần, lãnh thổ Đại Việt được mở rộng về phía Nam thêm hai châu: Ô, Rí. Việc mở rộng lãnh thổ này gắn chặt với cuộc hôn nhân của Huyền Trân - Chế Mân.

Đại Việt dưới sự trị vì của Trần Nhân Tông đã phát triển mạnh mẽ, giành chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông lần thứ 2 (năm 1285). Sau những thắng lợi đó, triều Trần đứng trước yêu cầu củng cố đất nước và xây dựng một môi trường hòa bình để phục hồi sau chiến tranh. Mặc dù chiến thắng vẻ vang, Đại Việt vẫn phải duy trì thế phòng bị trước nhà Nguyên ở phương Bắc, trong khi ở phương Nam luôn tồn tại nguy cơ xung đột với Chiêm Thành. Trong bối cảnh ấy, ngoại giao, hôn nhân chính trị và liên minh giữa các quốc gia trở thành lựa chọn tối ưu nhằm vừa bảo đảm hòa bình lâu dài, vừa tạo điều kiện mở rộng ảnh hưởng và củng cố biên cương quốc gia. Đây có thể xem là một biểu hiện của tầm nhìn chiến lược và tư duy chính trị linh hoạt của Thượng hoàng Trần Nhân Tông trong việc giải quyết đồng thời các vấn đề đối nội và đối ngoại.

Sau khi nhường ngôi cho Trần Anh Tông, Trần Nhân Tông xuất gia tu hành, sáng lập Thiền phái Trúc Lâm và trở thành trụ cột về tư tưởng, tinh thần của triều Trần. Tuy lui về đời sống thiền môn, nhưng Thượng hoàng vẫn luôn quan tâm sâu sắc đến chính sự quốc gia, đặc biệt là các vấn đề đối ngoại, biên cương và lãnh thổ. Chuyến vân du vào Chiêm Thành năm 1301 không chỉ mang ý nghĩa hoằng pháp hay giao lưu văn hóa, mà còn là một hoạt động ngoại giao quan trọng, góp phần đặt nền móng cho mối quan hệ hữu hảo giữa Đại Việt và Chiêm Thành cũng như mở đường cho cuộc hôn nhân giữa công chúa Huyền Trân và vua Chế Mân sau này.

Về phía Chiêm Thành, sau kháng chiến chống quân Nguyên - Mông xâm lược (1285), dưới sự trị vì của Jayasinhavarman III (Chế Mân), Chiêm Thành thực hiện chính sách ngoại giao hữu hảo với Đại Việt. Năm 1301, vua Jayasinhavarman III (Chế Mân) cử sứ giả sang tặng lễ vật cho triều đình Đại Việt và mời Thượng hoàng Trần Nhân Tông sang thăm Champa(5).

Tháng 3 năm Tân Sửu (1301), Trần Nhân Tông “thường muốn lịch lãm núi sông trong thiên hạ, nên mới du phương, rồi sang Chiêm Thành”(6). Trần Nhân Tông đã lưu lại trên đất Chiêm Thành 9 tháng (tháng 3 tới tháng 11). Ngoài việc Chế Mân đồng ý dâng hai châu Ô và Lý cho Đại Việt để được kết duyên với công chúa Huyền Trân, trong lời đề từ cho bức tranh Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ, Trần Chí Chính viết tiếp rằng Chế Mân đã “đem đất hai châu làm lễ cúng dâng cho ngài. Ấy là Thần châu và Hóa châu nay vậy”(7).

Tháng 2 năm Ấy Tỵ (1305), Chiêm Thành sai Chế Bồ Đài và hơn 100 người đem vàng bạc, hương quý, vật lạ để dâng làm lễ vật cầu hôn. Tháng 6 năm Bính Ngọ (1306), Trần Nhân Tông cử đoàn hộ tống công chúa Huyền Trân về Chiêm Thành. Chế Mân đem hai châu Ô, Lý làm vật dẫn cưới(8). Huyền Trân được Chế Mân phong là Paramesvari (hoàng hậu).

Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục ghi: “Quần thần trong triều đều nói là không nên gả, chỉ có Văn Túc Vương Đạo Tái chủ trương nên gả và Trần Khắc Chung tán thành. Chế Mân lại xin đem châu Ô (Vuyar), châu Lý (Ulik) (người Trung Hoa phiên ra Việt Rí và Ô Lệ; người Việt gọi là châu Ô, châu Rí) kể từ Nam sông Hiếu (Đông Hà, tỉnh Quảng Trị ngày nay) vào đến Bắc sông Ngũ Bồ (sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam bây giờ) để làm lễ cưới. Lúc ấy, ý vua mới quả quyết cho Huyền Trân công chúa về với chúa Chiêm. Về việc này có nhiều văn nhân mượn chuyện nhà Hán gả con gái cho Hung Nô và Ô Tôn làm thơ để chế giễu”(9).

Cuộc hôn nhân giữa công chúa Huyền Trân với chúa Chiêm Thành là Chế Mân diễn ra năm 1306 đã mang lại cho Đại Việt hai châu Ô, Lý (Rí). Biên giới quốc gia Đại Việt đã được mở rộng về phía Nam. Đây không chỉ là sự gia tăng đơn thuần về diện tích lãnh thổ, mà còn có ý nghĩa đặc biệt về chiến lược, chính trị và địa - quân sự. Việc tiếp nhận hai châu Ô, Lý giúp Đại Việt kiểm soát tuyến giao thông huyết mạch trên trục Bắc - Nam, mở rộng không gian hướng biển ở miền Trung, đồng thời hình thành một vùng đệm chiến lược giữa Đại Việt và Champa, góp phần bảo đảm an ninh biên giới phía Nam trong nhiều thế kỷ sau. Hơn nữa, nhìn sâu xa hơn thì sự kiện năm 1306 còn tạo nền tảng cho quá trình Nam tiến của dân tộc Việt trong các giai đoạn tiếp theo. Sau khi tiếp nhận hai châu Ô, Lý, triều Trần nhanh chóng xác lập hệ thống hành chính, tổ chức quản lý, đưa dân đến khai khẩn và từng bước Việt hóa vùng đất mới. Chính vùng Thuận - Hóa được hình thành từ hai châu này đã trở thành căn cứ chính trị, quân sự và kinh tế quan trọng của quốc gia. Nếu không có sự kiện tiếp nhận hai châu Ô, Lý năm 1306, sẽ rất khó có điều kiện để năm 1558 Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, mở đầu quá trình hình thành chính quyền Đàng Trong và thúc đẩy mạnh mẽ công cuộc mở cõi về phương Nam. 

Đến năm 1307, vua Trần Anh Tông đã cho đổi Ô châu thành Thuận châu, Lý châu thành Hóa châu: “Năm thứ 15, Đinh Mùi, vì người các thôn La Thủy, Tác Hồng, Đà Bồn không phục, vua (Trần Anh Tông) sai hành khiển Đoàn Nhữ Hài đến tuyên bố đức ý, đổi Ô, Lý làm hai châu Thuận, Hóa, chọn lấy những người trong dân chúng cho làm quan, vẫn cấp ruộng đất và miễn tô thuế 3 năm”(10). Sự kiện này không chỉ đơn thuần là việc thay đổi tên gọi địa danh, mà còn đánh dấu quá trình xác lập chủ quyền của nhà nước Đại Việt đối với vùng đất mới tiếp nhận. Thông qua việc đổi tên hành chính, triều Trần đã chính thức đưa hai châu Ô và Lý vào hệ thống quản lý của quốc gia; đồng thời tổ chức bộ máy cai trị bằng cách tuyển chọn người địa phương làm quan, thực hiện chính sách cấp ruộng đất, miễn tô thuế trong ba năm để ổn định đời sống nhân dân, tạo điều kiện cho việc khai khẩn và phát triển kinh tế. Cùng với đó, quá trình di dân người Việt đến sinh sống, khai phá và hòa nhập với cư dân bản địa từng bước được thúc đẩy, làm gia tăng sự hiện diện và ảnh hưởng của Đại Việt trên vùng đất mới. Có thể nói, những chính sách này phản ánh một chiến lược tiếp nhận lãnh thổ bài bản, trong đó việc đổi tên chỉ là bước khởi đầu, còn cốt lõi là quá trình “nhà nước hóa” lãnh thổ thông qua việc xác lập chủ quyền, thiết lập hệ thống hành chính, xây dựng bộ máy quản lý và tổ chức cộng đồng cư dân dưới quyền quản lý trực tiếp của triều đình.

Theo truyền thuyết dân gian, hoàng hậu Paramesvari (Huyền Trân công chúa) rất được Chế Mân sủng ái nên được đưa đi thăm viếng những danh lam thắng cảnh của Chiêm Thành. Các suối nước nóng dọc bờ biển miền Trung được dành riêng cho bà, kể cả suối Vĩnh Hảo (huyện Tuy Phong, Phan Thiết), để hạnh phúc của vua và hoàng hậu được bền lâu. 

Tuy nhiên, chưa đầy một năm sau hôn lễ, tháng 5 năm Đinh Mùi (1307), Chế Mân chết. Bốn tháng sau (tháng 9), thái tử Chế Đa Da mới sai sứ thần là Bảo Lộc Kê sang Đại Việt dâng voi trắng và báo tang. Vua Trần Anh Tông sai Nhập nội Hành khiển Thượng thư Tả bộc xạ Trần Khắc Chung và An phủ sứ Đặng Văn sang Chiêm Thành đón công chúa Huyền Trân và Thái tử Chế Đa Da về nước. Đại Việt sử ký toàn thư chép như sau: “Tục nước Chiêm Thành, hễ vua chết thì hoàng hậu phải vào giàn thiêu chết theo. Vua biết thế, sợ công chúa bị hại, sai bọn Khắc Chung mượn cớ làm lễ viếng và nói rằng: “Nếu công chúa hỏa táng thì việc làm chay không có người chủ trương, chi bằng hãy ra bờ biển làm lễ chiêu hồn ở ven trời, đón linh hồn cùng về, rồi vào giàn thiêu. Người Chiêm nghe theo. Khắc Chung dùng thuyền nhẹ cướp lấy công chúa đem về...”(11). 

Sau khi vua Chế Mân (1307) qua đời và sự kiện nhà Trần đưa Huyền Trân công chúa về nước đã làm sụp đổ tất cả mối bang giao hữu hảo giữa Chiêm Thành và nhà Trần. Chiêm Thành giai đoạn vua Chế Chí, Chế Năng, Chế A Nan và Chế Bồng Nga liên tục phát động các cuộc chiến tranh tấn công Đại Việt. 

Hai châu Thuận - Hóa luôn trở thành địa bàn tranh chấp giữa Đại Việt và Chiêm Thành. Tài liệu chính sử cho biết, năm 1326, Chế Năng làm phản chống lại nhà Trần buộc Trần Minh Tông phải cử Huệ Túc vương đi đánh Chiêm Thành. Chế Năng thua chạy sang Trảo Oa (Indonesia)(12) cầu viện quốc vương Trảo Oa đem quân tấn công Đại Việt. 

Năm 1390, Chế Bồng Nga bị tử trận, chúa Chiêm mới tiếm ngôi là La Khải sợ nhà Trần giúp các con Chế Bồng Nga giành lại ngôi báu nên buộc phải đem toàn bộ đất đai vừa cướp được (từ Thừa Thiên Huế trở ra đến Quảng Bình) trả lại cho Đại Việt.

Dưới thời Hồ, năm Nhâm Ngọ (1402), chúa Chiêm là Ba Đích Lại dâng nộp đất Chiêm Động và Cổ Lũy (miền đất Quảng Nam và Quảng Ngãi ngày nay) sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt. Nhà Hồ chia đất ấy làm bốn châu: Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, rồi lại đặt lộ Thăng Hoa (tức đất Chiêm Động cũ), đặt chức An phủ sứ và An phủ phó sứ để cai trị. An phủ sứ lộ Thuận Hóa là Nguyễn Cảnh Chân được cử làm An phủ sứ lộ Thăng Hoa. Riêng hai châu Tư, Nghĩa (nay là địa bàn tỉnh Quảng Ngãi), nhà Hồ giao cho người Chiêm Thành là Hiệu Chính hầu Chế Ma Nô Đà Nan làm Cổ Lũy huyện thượng hầu trấn giữ vỗ về dân chúng người Chiêm, còn ở lộ Thăng Hoa hầu hết dân Chiêm Thành đã rời khỏi đất cũ đi theo chúa Chiêm, những người ở lại thì bổ làm quân.

Đầu năm Quý Mùi (1403), Hồ Hán Thương sai “đưa những người dân không có ruộng mà có của rời đến Thăng Hoa, biên chế thành quân ngũ. Quan lại ở các lộ, phủ, châu huyện xem đất cho họ ở. Người ở châu nào thì thích hai chữ tên châu ấy vào cánh tay để làm dấu hiệu”. Quá trình di dân người Việt vào khai khẩn miền đất Thăng Hoa bắt đầu diễn ra mạnh mẽ từ lúc này.

Người Việt tiến vào đến đâu thì hầu hết người Chăm lại càng lùi sâu về phía Nam đèo Hải Vân đến tận Quảng Ngãi ngày nay. 

Trong mấy đời vua đầu triều Lê sơ (Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông), nhà nước trung ương vẫn chưa áp đặt được quyền lực thực tế của mình đối với miền đất từ Thăng Hoa trở vào. Năm 1435, đời Lê Thái Tông, nhân dịp sứ thần Chiêm Thành sang, vua Lê đã sai Lê Nhữ Lãm chất vấn họ: “Đồng ruộng các xứ Chiêm Động và Cổ Lũy của nước Chiêm vốn là đất của ta, các ngươi nhân lúc nước ta nhiều biến cố cướp lấy để tự vỗ béo mình, tới nay vẫn không trả lại, lệ cống hàng năm lại không nộp là làm sao?”.

Năm Hồng Đức thứ 2 (1471), vua Lê Thánh Tông thân chinh Nam tiến, mở rộng đất đai đến núi Thạch Bi. Lê Thánh Tông cho người Chiêm là Ba Thái làm Đồng Tri châu, Đa Thùy làm Thiêm Tri châu châu Đại Chiêm, nhưng chỉ sau đó ít ngày Lê Thánh Tông cử quan lại triều đình đến hiệp sức cùng trấn giữ, Đỗ Tử Quy làm Đồng Tri châu châu Đại Chiêm, Lê Ỷ Đà làm Đồng Tri châu châu Cổ Lũy.

Tháng 6 năm Tân Mão, Hồng Đức thứ 2 (1471) trên cơ sở đất hai châu Đại Chiêm (Chiêm Động cũ) và Cổ Lũy, Lê Thánh Tông cho lập Thừa tuyên Quảng Nam gồm ba phủ, chín huyện, đồng thời xây dựng bộ máy hành chính ở Thừa tuyên Quảng Nam gồm ba ty: Đô chỉ huy sứ ty, Thừa chính sứ ty và Hiến sát sứ ty phụ trách công việc quân, dân, chính trong toàn hạt. Việc tổ chức trọn vẹn ba ty ở các thừa tuyên với trách nhiệm riêng của từng ty đã góp phần ngăn ngừa khuynh hướng cát cứ địa phương và tăng cường quyền lực cho chính quyền trung ương. Sự ổn định đất đai, dân cư, hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở với sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền trung ương đã chính thức tạo nền móng vững chắc cho vùng đất này mở mang và phát triển vững mạnh trong những thế kỷ sau.

Năm 1558, Nguyễn Hoàng được cử vào làm trấn thủ Thuận Hóa và năm 1570 kiêm trấn thủ Quảng Nam. Từ đây cuộc di dân, mở mang bờ cõi về phía Nam của người Việt lại càng được đẩy mạnh.

Có thể khẳng định rằng cuộc hôn nhân giữa công chúa Huyền Trân và vua Chế Mân năm 1306 là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử quan hệ Đại Việt - Champa, cũng như trong tiến trình mở rộng lãnh thổ về phương Nam của dân tộc Việt. Thông qua cuộc hôn nhân này, Đại Việt tiếp nhận hai châu Ô và Lý, mở rộng không gian sinh tồn xuống khu vực Thuận - Hóa, tạo dựng một vùng đệm chiến lược ở phía Nam và đặt nền móng cho quá trình Nam tiến kéo dài trong nhiều thế kỷ tiếp theo. Từ vùng đất được xác lập chủ quyền dưới thời Trần, Thuận Hóa dần trở thành căn cứ chính trị, quân sự quan trọng của quốc gia, là tiền đề để năm 1558 Nguyễn Hoàng vào trấn thủ, mở đầu sự hình thành Đàng Trong, và sau này phát triển thành trung tâm Phú Xuân - Huế của đất nước. Nhìn từ tiến trình lịch sử lâu dài, cuộc hôn nhân Huyền Trân - Chế Mân không chỉ đem lại hai châu đất mới mà còn tạo nên một bước ngoặt trong quá trình định hình không gian lãnh thổ và bản đồ Việt Nam.

Điều đáng chú ý là các nguồn sử liệu hiện còn đều cho thấy việc dâng hai châu Ô và Lý trước hết xuất phát từ đề nghị của vua Chế Mân như một sính lễ trong cuộc cầu hôn, chứ không phải là kết quả của một cuộc chiến tranh chinh phục hay của sức ép quân sự trực tiếp từ Đại Việt. Khâm định Việt sử thông giám cương mục ghi rõ rằng khi vấn đề gả công chúa Huyền Trân được đưa ra bàn bạc, đa số triều thần đều phản đối, chỉ có Văn Túc Vương Đạo Tái và Trần Khắc Chung tán thành. Bộ sử cũng chép: “Quần thần trong triều đều nói là không nên gả, chỉ có Văn Túc Vương Đạo Tái chủ trương nên gả và Trần Khắc Chung tán thành. Chế Mân lại xin đem châu Ô, châu Lý để làm lễ cưới, lúc ấy, ý vua mới quả quyết cho Huyền Trân công chúa về với chúa Chiêm”(13). Chi tiết này cho thấy quyết định của triều Trần không phải là một chủ trương được đồng thuận ngay từ đầu mà là kết quả của sự cân nhắc kỹ lưỡng giữa lợi ích quốc gia và những ràng buộc của lễ giáo đương thời.

Nhìn ở góc độ lịch sử chính trị, quyết định của Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã thể hiện một tầm nhìn chiến lược vượt lên những định kiến đương thời. Sau ba lần kháng chiến chống quân Nguyên - Mông, Đại Việt cần một môi trường hòa bình để phục hồi và phát triển. Trong bối cảnh đó, ngoại giao, hôn nhân và liên minh trở thành phương thức tối ưu để vừa bảo đảm an ninh biên giới, vừa mở rộng không gian chiến lược của quốc gia. Chính vì vậy, cuộc hôn nhân Huyền Trân - Chế Mân có thể được xem là một thành công tiêu biểu của nghệ thuật ngoại giao thời Trần, kết hợp hài hòa giữa lợi ích quốc gia, hòa bình khu vực và mục tiêu mở rộng lãnh thổ. Nhận định này cũng nhận được sự đồng tình của một số học giả nước ngoài. Nhà nghiên cứu Hàn Quốc Jung Nam cho rằng: “Việc nhận được lãnh thổ do nhà trai trao cho nhà gái là một hình thức tiếp nhận lãnh thổ thông qua quan hệ hữu nghị”(14). Cách nhìn này góp phần khẳng định rằng việc tiếp nhận hai châu Ô và Lý là kết quả của một giải pháp ngoại giao hòa bình, phù hợp với truyền thống bang giao của khu vực Đông Nam Á trung đại.

Đặc biệt, toàn bộ quá trình hình thành cuộc hôn nhân diễn ra khi Trần Nhân Tông đã nhường ngôi, xuất gia và trở thành vị Sơ Tổ của Thiền phái Trúc Lâm. Điều đó cho thấy, mặc dù rời xa ngai vàng, Thượng hoàng vẫn giữ vai trò định hướng những quyết sách lớn liên quan đến vận mệnh quốc gia. Dưới góc nhìn này, cuộc hôn nhân Huyền Trân - Chế Mân không chỉ phản ánh tầm nhìn chính trị của một minh quân, mà còn phần nào thể hiện ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo Trúc Lâm đối với nghệ thuật trị quốc. Tinh thần từ bi, hòa hiếu và chủ trương hóa giải xung đột bằng đối thoại đã được vận dụng một cách linh hoạt trong quan hệ với Chiêm Thành, tạo nên một mô hình kết hợp giữa sức mạnh quốc gia và giá trị văn hóa - tư tưởng trong việc bảo vệ chủ quyền và mở rộng lãnh thổ. Đây cũng là một minh chứng tiêu biểu cho sự gắn kết giữa Phật giáo và công cuộc dựng nước, giữ nước dưới triều Trần, đồng thời khẳng định rằng quá trình mở cõi của Đại Việt không chỉ được thực hiện bằng sức mạnh quân sự mà còn bằng trí tuệ chính trị, nghệ thuật ngoại giao và khát vọng hòa bình của dân tộc.

--------------

TS. Đinh Văn Viễn (Trường Đại học Hoa Lư, Ninh Bình)

(1)Hoa Anh Đào, “Tìm hiểu quá trình mở rộng lãnh thổ của người Việt xuống phía Nam”, http:// nghiencuulichsu.com/2015/12/04/tim-hieu-qua-trinh-mo-rong-lanh-tho-cua-nguoi-vietxuong-phia-nam/.

(2)Theo Đào Duy Anh và Hoàng Xuân Hãn thì châu Địa Lý, đời Lý đổi ra Lâm Bình, đời Trần đổi ra Tân Bình, đời Lê Trung hưng đổi ra Tiên Bình, thuộc tỉnh Quảng Bình gồm các huyện: Lệ Thủy, Phong Phú, Phong Lộc, nay thuộc huyện Lệ Thủy và Quảng Ninh; châu Ma Linh, đời Lý đổi ra Minh Linh, nhà Minh chiếm đóng đổi ra Nam Linh, đời Lê lập lại Minh Linh thuộc tỉnh Quảng Trị gồm hai huyện Minh Linh và Gio Linh, nay là huyện Vĩnh Linh và Gio Linh; Bố Chính, nhà Minh đổi ra Trấn Bình, nhà Lê đổi lại Bố Chính, thuộc tỉnh Quảng Bình gồm các huyện Bình Chánh và Tuyên Chánh, nay thuộc các huyện Quảng Trạch, Bố Trạch và Tuyên Hóa.

(3)Khuyết danh, Việt sử lược, NXB.Thành phố Hồ Chí Minh, 1993, tr.51-52.

(4)Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt: lịch sử bang giao và tông giáo, NXB.Văn Học, Hà Nội, 1995, tr.36; P-B. Lafont, Vương quốc Champa: địa dư - dân cư - lịch sử, IOC - Champa, San Jose, 2011, tr.158; Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, NXB.Thuận Hóa, Huế, 2012, tr.330; Lê Thành Khôi, Lịch sử Việt Nam: từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX, NXB.Thế Giới, Hà Nội, 1014, tr.191.

(5)Dorohiem - Dohamide, Dân tộc Chàm lược sử, Khai Trí xuất bản, Sài Gòn, 1965, tr.174.

(6)Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập 1, NXB.Giáo Dục, Hà Nội, 2007, tr.546.

(7)Lê Mạnh Thát (2000), Toàn tập Trần Nhân Tông, NXB.TP.HCM, 2000, tr.202.

(8)Ngô Sĩ Liên và sử thần triều Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, (viết tắt là Toàn thư), tập II, NXB.Khoa học xã hội, Hà Nội, 1967, tr.93.

(9)Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập 1, tr.551.

(10)Lê Quý Đôn (1962), Phủ biên tạp lục, NXB.Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.32.

(11)Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, tài liệu đã dẫn, tr.94.

(12)Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, tài liệu đã dẫn, tr.117.

(13)Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập I, NXB.Giáo Dục, Hà Nội, 1998, tr.551.

(14)Jung Nam, “The Name and Territory of Vietnam”, Nghiên cứu Đông Nam Á, số 16(2), 2007, tr.107.

Tài liệu tham khảo

1. Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, NXB.Thuận Hóa, Huế, 2012. 

2. Dorohiem - Dohamide, Dân tộc Chàm lược sử, Khai Trí xuất bản, Sài Gòn, 1965.

3. Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt: lịch sử bang giao và tông giáo, NXB.Văn Học, Hà Nội, 1995. 

4. Lê Thành Khôi, Lịch sử Việt Nam: từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX, NXB.Thế Giới, Hà Nội, 2014.

5. Khuyết danh, Việt sử lược, NXB.Thành phố Hồ Chí Minh, 1993.

6. Ngô Sĩ Liên và sử thần triều Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, NXB.Khoa học xã hội, Hà Nội, 1967.

7. Lafont, Vương quốc Champa: địa dư - dân cư - lịch sử, IOC - Champa, San Jose, 2011. 

8. Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập 1, NXB.Giáo Dục, Hà Nội, 2007.

9. Lê Mạnh Thát, Toàn tập Trần Nhân Tông, NXB.Thành phố Hồ Chí Minh, 2000.

(NSGN 365)

TS.Đinh Văn Viễn

Nguồn: NSGN

Bình luận
Gửi bình luận của bạn

Danh bạ website Phật giáo
Sự kiện - Hội thảo
  • Về Thiền học khởi nguyên của Phật Giáo Việt Nam
  • Giới thiệu sách - Tìm người trong hơi thở
  • Chuyện xưa... mai trắng Hà thành
  • Đôi dòng xúc cảm
  • 108 Lời tự tại – Nâng cao phẩm chất cuộc sống
  • Ai trộm chuỗi tràng hạt của Phật?
  • Em nên đi tu hay lấy chồng?
  • Trần Nhân Tông – đức Vua, Phật hoàng của dân tộc Việt
  • Bình an giữa cuộc đời
  • Ăn và Đạo Pháp

Đăng ký bản tin