Chi tiết tin tức

Phương tiện thiện xảo

15:53:00 - 02/04/2026
(PGNĐ) -  Mỗi bộ kinh trong truyền thống Đại thừa (Mahāyāna) đều chuyển tải phương pháp tu tập và kinh nghiệm tự thân của mỗi vị Bồ-tát. Có nhiều pháp môn (S. Dharma paryāya, E. Dharma gate) tu tập trong Phật giáo, và tùy theo trình độ cũng như căn cơ thích hợp của mỗi người tu tập mà mỗi pháp môn có thể đáp ứng.

Mặc dù trên hình thức, có những khác biệt trong nhận thức và phương pháp hành trì trong mỗi bộ kinh; nhưng xét về nội dung, tất cả đều phải chuyển tải qua hai điểm liên hệ mật thiết cơ bản: thực hành Giới, Định, Tuệ (Bát chánh đạo, S. Mārga-satya) và Lục Ba-la-mật (S. Ṣaṭpāramitā) để đạt được hạnh phúc thật sự hay giác ngộ viên mãn. 

Hiểu được như vậy, chúng ta không nên xem những lời kinh trong mỗi bộ kinh Đại thừa là “chân lý bất di bất dịch” mà như là “chiếc bè đưa người qua sông” hay là “phương tiện thiện xảo” (S. Upāya, E. Skillful means), được áp dụng tùy theo trình độ và căn cơ của mỗi người, nhằm giúp chuyển hóa con người từ mê mờ sang giác ngộ hay từ khổ đau sang hạnh phúc thật sự.

Trong lịch sử truyền bá Phật giáo vào các nước trên thế giới, chư lịch đại Tổ sư Phật giáo đã áp dụng “phương tiện thiện xảo” để truyền bá Phật giáo. Và kết quả là Phật giáo đã xây dựng, đóng góp tích cực cho nền văn hóa, tín ngưỡng, và nhất là lãnh vực đạo đức dựa trên nền tảng từ bi và trí tuệ cho đất nước mình được truyền vào.

​“Phương tiện thiện xảo” là phương pháp đối cơ mà chỉ có Đức Phật, bậc đại trí tuệ mới sử dụng nó một cách tuyệt diệu và hoàn hảo trong phương diện độ sanh. Từ “đối cơ” nghĩa là truyền dạy giáo pháp đến với tất cả mọi tầng lớp người trong xã hội dựa trên căn cơ và trình độ của họ. Từ ý nghĩa “phương tiện thiện xảo” hay đối cơ giúp chúng ta hiểu được vì sao trong phẩm “Phương tiện” ở kinh Pháp hoa (S. Saddharma Puṇḍarīka Sūtra) địa vị Thanh văn (S. Śrāvaka) và Duyên giác (S. Pratyekabuddha) đặt dưới Bồ-tát (Bodhisattvas). Thanh văn là những vị Tỳ-kheo nghe và thực tập giáo lý Tứ đế từ Đức Phật, đoạn trừ các lậu hoặc, hay phiền não tham, sân, si mà chứng được quả vị A-la-hán (S. Arhat).

Duyên giác, cũng gọi là Độc giác, là những vị Tỳ-kheo trong thời không có Đức Phật, tự mình thực tập và quán chiếu giáo lý Thập nhị nhân duyên, đoạn trừ các lậu hoặc tham, sân, si mà chứng quả A-la-hán. Bồ-tát (S. Bodhisattva), nguyên nghĩa là một chúng sanh (S. Sattva) tìm cầu giác ngộ (S. Bodhi), nhưng trong các kinh điển Đại thừa, Bồ-tát được định nghĩa là những chúng sanh tầm cầu sự giác ngộ (hay thành Phật) vì lòng từ bi để cứu độ chúng sanh. Và để đạt được giác ngộ, Bồ-tát phải thực hành Lục Ba-la-mật (S. Ṣaṭpāramitā): bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. 

Trong các kinh điển Đại thừa, các vị Bồ-tát như Quan Thế Âm, Văn Thù, Phổ Hiền, và Địa Tạng là những biểu tượng hoàn hảo cho định nghĩa trên. Xét về nội dung giác ngộ, ta thấy có điểm chung giữa Thanh văn, Duyên giác và Bồ-tát: tất cả đều thực hành Giới, Định, Tuệ, đoạn trừ phiền não tham, sân, si để đạt được giác ngộ. Tuy nhiên, có sự khác biệt xét trên phương diện thể hiện giữa Thanh văn, Duyên giác và Bồ-tát. Trong khi ý nghĩa của Thanh văn và Duyên giác nhấn mạnh về sự chuyển hóa nội tâm để đoạn trừ tham, sân, si, thì quả vị Bồ-tát đòi hỏi không những chuyển hóa nội tâm, mà còn phải thể hiện sự chuyển hóa qua hành động từ bi, thực hành Bố thí Ba-la-mật (S. Dāna Pāramitā)* để cứu độ chúng sanh.

Có một điều nguy hiểm cần phải cảnh giác ở đây: ‘phương tiện thiện xảo’ là con dao hai lưỡi. Phải là người có trí tuệ và từ bi sử dụng nó thì mới mang lợi ích Phật pháp cho mọi người; ngược lại, nếu người không có trí tuệ, từ bi và không có sự tu tập mà nhân danh truyền bá Phật giáo để sử dụng nó, thì đó là tà kiến và ác nghiệp.

Đây là lý do tại sao trong ba thừa, địa vị của Bồ-tát được nâng cao hơn Thanh văn và Duyên giác. Mặc dù trong phẩm Phương tiện, Đức Phật nói có ba thừa, tức Thanh văn, Duyên giác và Bồ-tát, nhưng theo Đức Phật, ba thừa này chỉ là “phương tiện” Đức Phật thi thiết để dẫn dắt chúng sanh đến Phật thừa duy nhất (Eka-Buddha-yana), chứng đạt Phật vị, với trí tuệ và từ bi viên mãn, hay tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Phật vị hay trí tuệ và từ bi viên mãn là kết quả được đúc kết từ nỗ lực diệt trừ phiền não tham, sân, si (kết quả chứng đắc của Thanh văn và Duyên giác) và lòng từ bi vô lượng cứu khổ chúng sanh (công hạnh của Bồ-tát). ​Đây là ý nghĩa ba thừa mà cuối cùng chỉ có nhất thừa hay phương tiện giúp hành giả đạt đến cứu cánh.

“Phương tiện thiện xảo” như đã được trình bày ở trên là phương pháp tuyệt diệu mà Đức Phật dùng để giáo hóa tùy theo căn cơ của mọi chúng sanh. Điều quan trọng chúng ta phải nhớ là mặc dù những lời Phật dạy mang tính đối cơ, nhưng nội dung của những lời dạy đó phải chuyển tải ý nghĩa diệt trừ phiền não tham, sân, si, để thoát khổ và phát triển từ bi và trí tuệ để xây dựng một cuộc sống hạnh phúc thật sự. 

Trong lịch sử truyền bá Phật giáo vào các nước trên thế giới, chư lịch đại Tổ sư Phật giáo đã áp dụng “phương tiện thiện xảo” để truyền bá Phật giáo. Và kết quả là Phật giáo đã xây dựng, đóng góp tích cực cho nền văn hóa, tín ngưỡng, và nhất là lãnh vực đạo đức dựa trên nền tảng từ bi và trí tuệ cho đất nước mình được truyền vào. Có một điều nguy hiểm cần phải cảnh giác ở đây: “phương tiện thiện xảo” là con dao hai lưỡi. Phải là người có trí tuệ và từ bi sử dụng nó thì mới mang lợi ích Phật pháp cho mọi người; ngược lại, nếu người không có trí tuệ, từ bi và không có sự tu tập mà nhân danh truyền bá Phật giáo để sử dụng nó, thì đó là tà kiến và ác nghiệp.

-----------------------

Chú thích:

(*) Bố thí Ba-la-mật (S. Dāna pāramitā) là bố thí rốt ráo, hay trọn vẹn; nghĩa là hành động bố thí được phát xuất từ lòng từ bi, chứ không phải vì bản ngã, quyền lợi cá nhân, hay trao đổi thù tạc. Bố thí Ba-la-mật bao gồm: bố thí tài vật, giảng dạy Phật pháp và mang lại nguồn an lạc cho chúng sinh.

Từ “Pāramitā” nguyên nghĩa của Sanskrit dịch là hoàn hảo hay trọn vẹn; tuy nhiên, các bản kinh của Trung Quốc, thường dịch nó dựa theo từ nguyên học (etymology): đáo bỉ ngạn, hay vượt qua bờ bên kia; Pāra: xa, phía bên kia, và quá khứ phân từ itā: đã đi. Bờ bên kia được hiểu là giải thoát hay giác ngộ. 

Hai lời dịch trên đều hợp lý, tuy nhiên lối dịch Pāramitā là hoàn hảo hay trọn vẹn nó phản ảnh trung thực tinh thần của Bát-nhã hơn. 

Hòa thượng Thích Giác Như

Nguồn: GNO

Bình luận
Gửi bình luận của bạn

Danh bạ website Phật giáo
Sự kiện - Hội thảo
  • Về Thiền học khởi nguyên của Phật Giáo Việt Nam
  • Giới thiệu sách - Tìm người trong hơi thở
  • Chuyện xưa... mai trắng Hà thành
  • Đôi dòng xúc cảm
  • 108 Lời tự tại – Nâng cao phẩm chất cuộc sống
  • Ai trộm chuỗi tràng hạt của Phật?
  • Em nên đi tu hay lấy chồng?
  • Trần Nhân Tông – đức Vua, Phật hoàng của dân tộc Việt
  • Bình an giữa cuộc đời
  • Ăn và Đạo Pháp

Đăng ký bản tin