Chi tiết tin tức

Lời kinh hóa giải những oan khiên

19:56:00 - 11/09/2026
(PGNĐ) -  Trên một đất nước từng trải qua hàng nghìn năm binh lửa, chiến tranh không chỉ để lại thương tích trên thân thể người sống mà còn lưu dấu trong ký ức cộng đồng, trong tâm thức nhiều thế hệ.

Bằng lời kinh, tiếng kệ, chuông u minh cùng các đại lễ cầu siêu, Phật giáo góp phần chuyển hóa nỗi u uất ấy trong tinh thần từ bi, vị tha và “bình đẳng giải oan”.

Nỗi đau còn lại khi chiến tranh đã qua 

Thực vậy, tiếng súng đã im, chiến hào được lấp, phố phường hồi sinh, song dưới nhiều cánh rừng, dòng sông và vùng đất vẫn còn những người nằm xuống chưa tìm thấy tên, chưa trở về với gia đình. Trong nhiều mái nhà, một chiếc bàn thờ vẫn chờ di ảnh; người mẹ đã già mà chưa biết con mình nằm lại nơi đâu; người vợ đi qua gần trọn cuộc đời với một lời hẹn không bao giờ thành hiện thực.

Ảnh: Đăng Huy
Ảnh: Đăng Huy

Lịch sử Việt Nam là lịch sử dựng nước đi liền với giữ nước. Qua hàng nghìn năm, dân tộc đã phải đương đầu với nhiều cuộc chiến tranh, nội chiến, phân ly và mất mát, để lại khoảng trống cho người ở lại.

Đại thi hào Nguyễn Du, bằng cái nhìn thấm đẫm tinh thần từ bi, từng viết trong Văn tế thập loại chúng sinh: “Buổi chiến trận mạng người như rác/ Phận đã đành đạn lạc tên rơi”. Sau chiến trận, Nguyễn chỉ nhìn thấy thân phận con người bị đẩy vào cảnh “nước khe cơm ống”, dãi dầu nghìn dặm rồi bỏ mình giữa nơi tên bay đạn lạc. 

Người đã mất có thể không còn cất tiếng, nhưng ký ức về họ vẫn hiện diện trong gia đình và cộng đồng. Bởi thế, hòa bình không chỉ là không còn tiếng súng mà còn là khả năng đưa người chết trở về trong ký ức chung, giúp người sống được tri ân, được sám hối và được nói với nhau rằng đau thương ấy không nên tái diễn. 

Đây chính là nơi Phật giáo, trong hành trình đồng hành cùng dân tộc, đã và đang góp phần thực hiện một công việc bền bỉ: hóa giải oan khiên bằng từ bi, và đưa ký ức chiến tranh từ chỗ khốc liệt sang tri ân. 

Bình đẳng trước tiếng chuông cầu nguyện

Trong nghi lễ Phật giáo Việt Nam, tiếng chuông u minh thường ngân lên vào những thời khắc tĩnh lặng nhất. Tiếng chuông không hỏi người nghe khi còn sống thuộc sang hay hèn, thân hay sơ. Âm thanh ấy được gửi đến những cảnh giới khổ đau, nhắc người còn sống khởi tâm tỉnh thức, đồng thời mở ra một không gian tâm linh nơi chiến sĩ trận vong và đồng bào tử nạn đều được tưởng niệm.

Một đại lễ cầu siêu đúng nghĩa không chỉ dành cho người đã khuất, đó còn là pháp hội chuyển hóa người sống. Từ nhận thức ấy, lòng tri ân được nuôi dưỡng, và ý nguyện bảo vệ hòa bình trở nên chân thành hơn.

Các đại trai đàn giải oan, chẩn tế và cầu siêu trong lịch sử Phật giáo Việt Nam thường mang tinh thần “âm siêu dương thái”: cầu cho người mất được siêu sinh, người sống được an ổn. “Bình đẳng giải oan” vì thế là một thái độ tâm linh đặc biệt. Các đại trai đàn giải oan thể hiện tinh thần cầu siêu “không phân biệt ta và người”, từ đó biểu đạt lòng tha thứ, cảm thông và bình đẳng của dân tộc Việt Nam. 

Kinh Pháp cú nêu một nguyên lý căn bản: hận thù không thể được dập tắt bằng hận thù, chỉ có tình thương mới hóa giải được hận thù. Trong kinh Từ bi, tâm từ được mở rộng đến mọi loài, không loại trừ kẻ yếu hay người mạnh, người ở gần hay ở xa, hữu hình hay khuất mặt. Kinh Từ bi đặt nền móng tâm linh cho mọi tiến trình hòa giải: muốn chữa lành vết thương chung, lòng từ phải vượt ra ngoài ranh giới vốn có.

Vì thế, lời kinh, tiếng kệ và tiếng chuông không phải để ru con người quên đi sự thật. Khi tên của những người tử trận được xướng lên, khi nén hương được thắp cho những người đã khuất, người sống đang xác nhận rằng không nỗi đau nào nên bị gạt ra ngoài lòng thương.

Nhiều người hay tin đã đến Công viên Lê Thị Riêng tưởng niệm, tham dự các khóa lễ do GHPGVN TP.HCM thực hiện - Ảnh: Văn Phúc
Nhiều người hay tin đã đến Công viên Lê Thị Riêng tưởng niệm, tham dự các khóa lễ do GHPGVN TP.HCM thực hiện - Ảnh: Văn Phúc

Chữa lành ký ức để cùng đi tới

Đối với Phật giáo, đồng hành cùng dân tộc không chỉ thể hiện trong những thời kỳ chống ngoại xâm, xây dựng đất nước hay thực hiện công tác an sinh. Sự đồng hành còn nằm ở khả năng chăm sóc đời sống tinh thần của dân tộc sau chiến tranh. Khi xã hội tập trung tái thiết nhà cửa, đường sá và kinh tế; cửa thiền góp phần tái thiết đời sống tâm linh bằng lễ tưởng niệm, cầu siêu.

Nhiều lễ cầu siêu Anh hùng liệt sĩ, chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn đã trở thành dịp để các thế hệ gặp nhau trong một ký ức chung. Người trẻ có cơ hội hiểu rằng hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng máu xương; người từng đi qua chiến tranh có nơi gửi gắm những điều chưa thể nói; thân nhân người mất được cộng đồng sẻ chia. Nghi lễ cầu siêu khi được tổ chức trang nghiêm và đúng Chánh pháp có thể trở thành một hình thức giáo dục lịch sử bằng cảm xúc và đạo lý.

Tuy nhiên, như các vị cao đức chỉ dạy, để thực sự mang ý nghĩa hòa giải, các pháp hội ấy cần vượt khỏi tâm lý cầu cúng vụ lợi và sự phô trương hình thức. Một đàn tràng lớn nhưng thiếu sự tỉnh thức, thiếu thông điệp từ bi thì khó chuyển hóa được. Cầu siêu phải đi cùng việc sống thiện, giữ giới, giúp đỡ gia đình chính sách, chăm sóc thương bệnh binh, tìm kiếm hài cốt, bảo vệ nghĩa trang và gìn giữ hòa bình bằng hành động cụ thể.

Tri ân bắt đầu từ những việc rất nhỏ, một người trẻ biết cúi đầu trước nghĩa trang và hiểu giá trị của hòa bình; một ngôi chùa mở cửa để mọi gia đình có người tử nạn được đặt một nén hương. Những hành động ấy không làm quá khứ biến mất, nhưng thay đổi cách quá khứ tiếp tục sống trong hiện tại.

Đất nước đã đi qua nhiều cuộc binh đao. Trên mỗi tấc đất bình yên hôm nay có thể từng có người ngã xuống. Đối với họ, tiếng chuông u minh là lời gọi trở về; lời kinh là sự chở che; đàn tràng là nơi cộng đồng xác nhận rằng họ không bị quên lãng. Đối với người đang sống, đó là lời nhắc phải biết dừng lại.

Tâm niệm hòa giải mà Phật giáo chuyển tải không phải sự yếu mềm, càng không phải lãng quên. Đó là bản lĩnh nhìn thẳng vào lịch sử; giữ vững đạo lý tri ân mà không nuôi lớn hận thù. Khi tiếng chuông ngân lên cho anh hùng liệt sĩ, chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn, ranh giới cuối cùng được vượt qua chính là ranh giới trong lòng người.

Có lẽ, dân tộc chỉ thật sự đi ra khỏi chiến tranh khi ký ức đau thương được chuyển hóa thành lòng biết ơn, trách nhiệm và khát vọng hòa bình. Trên hành trình ấy, Phật giáo tiếp tục đồng hành cùng dân tộc bằng phương tiện vốn có của mình, đó là từ bi để ôm lấy mọi nỗi đau, trí tuệ để không lãng quên, và thực hành để biến lời cầu nguyện thành đời sống thiện lành. Đó cũng là ý nghĩa sâu xa của “bình đẳng giải oan” - không để bất kỳ người đã khuất nào bị loại khỏi tiếng chuông và không để bất kỳ người đang sống nào phải tiếp tục day dứt. 

Lưu Đình Long

Nguồn: GNO

Bình luận
Gửi bình luận của bạn

Danh bạ website Phật giáo
Sự kiện - Hội thảo
  • Về Thiền học khởi nguyên của Phật Giáo Việt Nam
  • Giới thiệu sách - Tìm người trong hơi thở
  • Chuyện xưa... mai trắng Hà thành
  • Đôi dòng xúc cảm
  • 108 Lời tự tại – Nâng cao phẩm chất cuộc sống
  • Ai trộm chuỗi tràng hạt của Phật?
  • Em nên đi tu hay lấy chồng?
  • Trần Nhân Tông – đức Vua, Phật hoàng của dân tộc Việt
  • Bình an giữa cuộc đời
  • Ăn và Đạo Pháp

Đăng ký bản tin