Chi tiết tin tức Quy ước và giải thoát 14:37:00 - 17/09/2026
(PGNĐ) - Tất cả mọi thứ trên đời đều là những quy ước mà chúng ta tự đặt ra. Một khi đã đặt ra, chúng ta lại tin vào chính những điều mình quy ước, nên chẳng ai chịu buông bỏ.
Nếu chúng ta hiểu đúng cả quy ước lẫn giải thoát, thì chúng ta có thể sống hòa hợp - Ảnh: Làng Mai Chúng trở thành quan điểm và tự ngã, chúng trở thành sự chấp thủ. Và sự chấp thủ này thì không bao giờ có điểm dừng. Nó là chuyện của luân hồi - một dòng chảy không ngừng nghỉ, không có cách nào tự khép lại.
Thí dụ như con người. Lúc khởi đầu, khi được sinh ra chúng ta không có tên. Việc có tên đến từ quy ước. Sư đã nghĩ về điều này và thấy rằng nếu ta không thực sự hiểu về quy ước, chúng có thể gây ra nhiều tác hại cho ta. Thực ra, các quy ước chỉ đơn giản là những thứ để chúng ta sử dụng. Nếu chúng ta hiểu được nhiệm vụ của chúng chỉ là thế, cũng đủ rồi. Hãy nhớ rằng, nếu không có các quy ước, ta không có gì để nói với nhau, không có ngôn ngữ để trao đổi với nhau. Khi ra nước ngoài, sư nhìn thấy người Tây phương ngồi thiền theo hàng lối. Khi xả thiền, nam cũng như nữ, đôi khi đến xoa đầu nhau, hết người này đến người kia! Khi nhìn thấy cảnh đó, sư đã nghĩ, “Nếu ta tạo ra các quy ước ở bất cứ nơi nào, rồi chấp vào đó, nó sẽ mang đến bao phiền lụy ngay đó”. Nếu ta có thể buông bỏ các quy ước của mình, ta có thể được bình an. Giống như các vị tướng lĩnh, những người có địa vị, đến gặp sư. Khi đến, họ yêu cầu, “Xin sư xoa đầu con”. Đó là do họ muốn, nên không có gì sai. Sư có thể sờ đầu họ, mà không có gì sai trái, mà họ vui vì điều đó. Nhưng nếu không có yêu cầu mà sư tự xoa đầu họ ở giữa đường, thì sẽ có chuyện lớn! Đó là vì sự bám chấp. Nên sư thấy việc buông bỏ rất dễ chịu. Khi đồng ý để người khác xoa đầu, họ nghĩ là không có gì sai cả. Và thực sự là không có gì sai, giống như ta xoa đầu bắp cải hay một búp xà lách. Nhưng nếu ta xoa đầu họ giữa đường, thì chắc chắn là họ không bằng lòng. Tất cả là vấn đề của sự sẵn lòng - chấp nhận, chào thua, buông bỏ. Khi ta có thể làm như thế, mọi thứ đều nhẹ nhàng. Ở đâu còn có bám chấp, ở đó có hữu, có sinh ngay đó, sự nguy hiểm và độc hại có ngay đó. Đức Phật đã dạy về các quy ước và Ngài đã dạy ta cách tháo gở các quy ước đúng cách, để buông bỏ chúng. Không bám vào chúng. Mọi thứ phát sinh trên thế gian này đều do các quy ước. Đó là cách chúng thành hình. Khi chúng phát khởi và được quy ước, ta không nên tin vào chúng, vì điều đó sẽ đưa đến khổ đau. Các vấn đề của sự quy ước, giả định vô cùng quan trọng. Bất cứ ai có thể buông chúng thì sẽ thoát khỏi khổ đau. Nhưng chúng tồn tại trong thế giới của chúng ta. Thí dụ như ông Boonma, là Cao ủy khu vực. Ông Saengchai, không phải là Cao ủy khu vực, nhưng họ đã là bạn thiết từ lâu. Giờ Boonma được đề đạt làm Cao ủy khu vực, thì ngay đó có sự quy ước, nhưng ta phải biết sử dụng nó đúng cách, vì ta vẫn còn tồn tại trong thế gian này. Nếu Saengchai đến văn phòng khu vực và vỗ đầu Boonma, thì không đúng phép. Ngay cả khi Saengchai nghĩ đến khoảng thời gian qua họ đã cùng làm thợ may và đi đây đi đó với nhau, về thời điểm họ tưởng đã chết, thì việc ông đùa giỡn trên đầu Boonma trước mặt bao người khác vẫn là không đúng. Ta phải tỏ ra có chút tôn trọng và hành xử đúng theo các quy ước xã hội. Chỉ có như thế ta mới sống được với nhau trong hòa bình. Không cần biết hai người là bạn của nhau trong bao lâu, nhưng nếu bị xoa đầu trước đám đông, chắc chắn là ông Cao ủy sẽ nổi giận - vì dù gì ông ta cũng là một vị Cao ủy. Cung cách cư xử trên thế gian cũng chỉ có thế: Bạn cần có cảm nhận về thời gian và không gian, và con người. Vì vậy, chúng ta được dạy phải thông minh, để có cảm nhận về các quy ước và sự buông bỏ. Phải có sự hiểu biết khi ta sử dụng chúng. Nếu bạn sử dụng chúng đúng cách, không có vấn đề. Nếu sai cách, sẽ gây phiền hà. Phiền hà vì điều gì? Nó đụng chạm đến các uế nhiễm của người, chỉ thế thôi - vì mọi người sống với uế nhiễm. Bạn phải tuân theo một số quy ước của một số nhóm, một số người, ở một không gian hay thời gian nào đó. Nếu bạn tuân theo chúng đúng cách, bạn được coi là thông minh. Bạn phải biết các quy ước này đến từ đâu và chúng sẽ dẫn bạn về đâu. Chúng ta phải sống với các quy ước, nhưng nếu bám chấp vào chúng, ta sẽ đau khổ. Nếu bạn hiểu các quy ước chỉ là mặc định và sử dụng chúng cho đến khi có thể buông bỏ, thì không vấn đề gì. Như sư vẫn thường nói, trước đây chúng ta là người tại gia, còn bây giờ chúng ta là người xuất gia. Trước kia chúng ta được xem là người tại gia, nhưng giờ đây, sau khi đã trải qua nghi thức thọ giới, chúng ta được xem là Tăng. Nhưng ta chỉ là Tăng trên phương diện quy ước, chứ chưa phải là Tăng thật sự, không phải là Tăng về mặt giải thoát. Nếu chúng ta tu tập để tâm được giải thoát khỏi mọi lậu hoặc (āsava) từng bước một - từ Dự lưu, Nhất lai, Bất lai cho đến A‑la‑hán - thì mọi phiền não sẽ được đoạn tận. Ngay cả khi ta nói ai đó là A‑la‑hán, thì đó cũng chỉ là một quy ước - nhưng vị ấy là một vị Tăng thật sự. Chúng ta bắt đầu bằng những quy ước như vậy. Trong lễ thọ giới, mọi người đồng ý gọi bạn là “Tăng”, nhưng điều đó có nghĩa là bạn lập tức đoạn trừ phiền não không? Không. Giống như muối vậy. Giả sử bạn cầm một nắm cát và nói: “Đây là muối”. Nó có phải muối không? Có, nhưng chỉ là muối trên phương diện quy ước. Nó không phải muối thật. Nếu bạn bỏ nó vào nồi cà-ri, nó sẽ không đáp ứng được mục đích của bạn. Nếu bạn tranh luận rằng đó là muối thật, thì câu trả lời phải là “không”. Đó chính là ý nghĩa của quy ước. Tại sao chúng ta đặt ra quy ước này? Vì ở đó không có muối thật. Chỉ có cát. Nếu bạn quy ước cát là muối, thì nó sẽ là muối đối với bạn - trên phương diện quy ước. Nhưng nó không phải muối thật, vì nó không mặn. Nó sẽ không đáp ứng được mục đích - hoặc nó có thể đáp ứng một số mục đích trên phương diện quy ước, nhưng không phải trên phương diện giải thoát. Từ “giải thoát”: gọi như vậy cũng chỉ là một quy ước, nhưng bản chất của sự giải thoát thì vượt trên mọi quy ước. Nó được giải thoát khỏi các quy ước - nhưng chúng ta vẫn dùng quy ước để gọi nó là “giải thoát”. Chúng ta có thể sống mà không có quy ước chăng? Không thể. Nếu không có quy ước, chúng ta sẽ không biết làm sao để nói chuyện với nhau. Chúng ta sẽ không biết sự vật bắt đầu từ đâu và kết thúc ở đâu. Chúng ta cũng sẽ không có ngôn ngữ để giao tiếp. Vì vậy, các quy ước có mục đích của chúng - những mục đích mà chúng ta cần đến. Ví dụ, con người có những tên gọi khác nhau, dù tất cả đều là con người như nhau. Nếu không có tên gọi, khi cần bạn sẽ không biết phải gọi ai đó làm sao. Ví dụ, nếu bạn muốn gọi ai đó trong đám đông mà chỉ nói: “Này người kia! Này người kia!” thì vô ích. Không ai trả lời, vì ai cũng là “người”. Nhưng nếu bạn gọi: “Lan! Lại đây!” thì Lan sẽ đến. Những người khác không cần phải đến. Đây là cách mà quy ước phục vụ mục đích. Nhờ vậy mà công việc được hoàn thành. Nên cũng có những phương pháp tu tập xuất phát từ các quy ước như thế. Nếu chúng ta hiểu đúng cả quy ước lẫn giải thoát, thì chúng ta có thể sống hòa hợp. Quy ước có công dụng của nó, nhưng trên thực tế thì chẳng có gì thật ở đó. Thậm chí không có cả “con người” ở đó! Chỉ có một tập hợp các điều kiện tự nhiên, sinh ra từ các nhân duyên. Chúng phát triển tùy thuộc vào nhân duyên, tồn tại một thời gian, rồi chẳng bao lâu sau lại tan rã. Bạn không thể ngăn điều đó xảy ra. Bạn cũng không thể thật sự điều khiển nó. Chỉ có thế thôi. Tất cả chỉ là quy ước, nhưng nếu không có quy ước thì chúng ta chẳng có gì để nói: không tên gọi, không thực hành, không công việc, không ngôn ngữ. Quy ước và tập tục được đặt ra để cho chúng ta có ngôn ngữ, để tiện lợi trong sinh hoạt, chỉ vậy thôi. Hãy lấy tiền làm ví dụ. Ngày xưa không có tiền giấy. Giấy chỉ là giấy, không có giá trị gì. Rồi người ta thấy tiền bằng bạc thật khó cất giữ, nên họ biến giấy thành tiền. Và thế là giấy trở thành tiền. Có thể một ngày nào đó trong tương lai, một vị vua mới xuất hiện và không thích tiền giấy nữa. Ông ta sẽ bắt chúng ta dùng giọt sáp làm tiền - lấy sáp niêm phong, nấu chảy, đóng thành cục, rồi quy ước đó là tiền. Thế là cả nước sẽ dùng giọt sáp để giao dịch, mắc nợ nhau chỉ vì những cục sáp. Người ta thậm chí có thể lấy phân gà làm tiền! Điều đó hoàn toàn có thể xảy ra. Tất cả phân gà của chúng ta sẽ trở thành tiền mặt. Rồi chúng ta sẽ tranh giành, đánh nhau, thậm chí giết nhau chỉ vì… phân gà. Ngay cả khi người ta đề xuất những quy ước mới cho sự vật, chỉ cần mọi người cùng đồng ý, thì nó sẽ được vận hành. Còn về chất bạc mà chúng ta sử dụng, ban đầu thật ra chẳng ai biết nó là gì. Quặng mà ta gọi là bạc: nó có thật sự là bạc không? Không ai biết. Có người thấy hình dạng của nó, rồi đặt ra quy ước gọi nó là “bạc”, và thế là nó trở thành bạc. Mọi chuyện trên đời chỉ có vậy. Chúng ta quy ước một thứ gì đó thành một sự vật, thì nó trở thành như thế - vì những thứ ấy tồn tại dựa vào quy ước của chúng ta. Nhưng để chuyển những điều này thành giải thoát, để khiến con người nhận ra sự giải thoát thật sự, thì điều đó rất khó. Nhà cửa, tiền bạc, tài sản, gia đình, con cái, họ hàng của chúng ta - tất cả đều là “của ta” trên phương diện quy ước. Nhưng thật ra, trên phương diện Pháp, chúng không thật sự là của ta. Chúng ta không thích nghe như thế, nhưng sự thật là vậy. Nếu không có quy ước gán giá trị cho chúng, thì chúng chẳng có giá trị gì. Hoặc nếu ta quy ước rằng chúng không có giá trị, thì chúng không có giá trị. Nhưng nếu ta quy ước rằng chúng có giá trị, thì chúng có giá trị. Sự vật là như vậy. Những quy ước này rất hữu ích nếu ta biết cách sử dụng chúng. Vì vậy, hãy học cách sử dụng chúng cho đúng. Ngay cả thân này cũng không thật sự là “ta”. Đó chỉ là một quy ước. Nếu bạn cố tìm một cái “ta” thật sự trong thân này, bạn sẽ không tìm thấy. Chỉ có các yếu tố sinh ra, tồn tại một thời gian, rồi tan hoại. Mọi thứ đều như vậy. Không có bản chất thật sự, vững chắc nào trong đó, nhưng chúng ta vẫn phải sử dụng nó theo đúng cách. Ví dụ, chúng ta cần gì để sống? Chúng ta cần thức ăn. Nếu mạng sống của ta phụ thuộc vào thức ăn dinh dưỡng, như một sự hỗ trợ mà ta phải sử dụng, thì ta nên dùng nó đúng với mục đích để duy trì sự sống, giống như cách Đức Phật dạy các vị tân Tỳ-kheo. Ngay từ lúc ban đầu, Ngài đã dạy về bốn nhu yếu: y phục, thức ăn, chỗ ở, thuốc men. Ngài dạy rằng chúng ta phải quán chiếu về những thứ này. Nếu buổi sáng ta không quán chiếu, thì buổi tối sau khi đã sử dụng, ta phải quán chiếu. Tại sao Ngài lại bắt chúng ta quán chiếu thường xuyên như vậy? Để nhận ra rằng đó là bốn sự hỗ trợ để duy trì thân này. Chừng nào ta còn sống, ta không thể thoát khỏi chúng. Ngài nói, “Các con sẽ phải dùng những thứ này suốt đời, nhưng đừng lụy vì chúng. Đừng bị chúng lừa. Chúng chỉ là như thế; chúng không cho ta gì hơn thế”. Nếu thiếu một trong bốn thứ này, ta không thể hành thiền, không thể tụng kinh, không thể quán chiếu. Trong lúc này, ta phải dựa vào chúng, nhưng đừng chấp vào chúng. Đừng rơi vào mặc định rằng chúng là của ta. Chúng chỉ hỗ trợ cho ta sống. Khi đến lúc, ta sẽ phải buông bỏ chúng. Nhưng trong khi còn sống, dù ý niệm rằng chúng là “của ta” chỉ là giả lập, ta vẫn phải chăm sóc chúng. Nếu không chăm sóc, ta sẽ khổ. Như cái chén chẳng hạn. Một ngày nào đó trong tương lai, cái chén sẽ phải vỡ. Nếu nó vỡ, cũng chẳng có gì lớn lao - nhưng khi ta còn sống, ta nên giữ gìn nó vì nó là vật dụng của ta. Nếu nó vỡ, ta sẽ bất tiện. Nếu nó phải vỡ, hãy để nó vỡ theo cách không thể tránh được. Cũng như vậy đối với bốn nhu yếu mà chúng ta được dạy phải quán chiếu. Chúng là những vật dụng cần thiết cho người xuất gia. Hãy sử dụng chúng nhưng đừng bám víu đến mức sự bám víu ấy trở thành một khối tham ái và phiền não trong tâm, khiến ta khổ. Hãy sử dụng chúng chỉ với mục đích duy trì sự sống, như vậy là đủ. Quy ước và giải thoát luôn liên hệ với nhau theo cách này. Dù chúng ta sử dụng các quy ước, nhưng đừng tin rằng chúng là chân lý tuyệt đối. Chúng chỉ đúng trên phương diện quy ước. Nếu ta chấp vào chúng, khổ sẽ sinh, vì ta không hiểu chúng đúng như bản chất thật của chúng. Điều này cũng đúng với các vấn đề đúng và sai. Có người thấy sai là đúng, thấy đúng là sai, nhưng đúng của ai và sai của ai thì chẳng ai biết. Mỗi người đặt ra quy ước khác nhau về đúng sai trong từng vấn đề, nên hãy cẩn trọng. Đức Phật e rằng nếu chúng ta tranh luận, điều đó sẽ dẫn đến khổ, vì những vấn đề như vậy không bao giờ có hồi kết. Người này nói “đúng”, người kia nói “sai”. Người này nói “sai”, người kia nói “đúng”. Nhưng thật ra, chúng ta chẳng biết đúng sai là gì. Điều chúng ta cần chỉ là học cách sử dụng khái niệm đúng sai sao cho được an ổn, để ta có thể vận dụng chúng một cách thích hợp. Đừng để chúng làm hại mình hay hại người khác. Hãy để mọi thứ ở mức trung tính như vậy. Đó là mục đích của ta. Tóm lại, cả quy ước lẫn giải thoát, buông xả đều chỉ là pháp. Cái này có cao hơn cái kia, nhưng chúng vẫn là những từ đồng nghĩa. Không có cách nào để bảo đảm chắc chắn rằng cái này phải là cái này, cái kia phải là cái kia, nên Đức Phật dạy hãy đặt tất cả xuống dưới dạng “không chắc”. Dù bạn thích một thứ đến mức nào, hãy biết rằng nó không chắc. Dù bạn ghét một thứ đến mức nào, hãy hiểu rằng nó không chắc. Và thật sự, mọi thứ đều không chắc. Hãy thực hành cho đến khi tất cả chỉ còn là pháp. Quá khứ, hiện tại và tương lai: Hãy biến tất cả thành là việc thực hành Pháp. Và nó khép lại ở điểm không còn gì nữa. Bạn đã buông. Bạn đã đặt gánh nặng xuống. Mọi thứ chấm dứt. Sư cho các con một ví dụ. Một người hỏi: “Tại sao lá cờ lại phấp phới? Chắc là vì có gió”. Người khác nói: “Nó phấp phới vì nó là lá cờ”. Những chuyện như vậy không bao giờ có hồi kết, giống như câu đố xưa: “Con gà hay quả trứng có trước?”. Chuyện này không bao giờ kết thúc. Nó cứ xoay mãi trong vòng tròn đó. Tất cả những thứ này chỉ là giả định. Chúng sinh ra từ sự cho rằng của chúng ta. Vì vậy bạn phải hiểu về giả định và quy ước. Nếu bạn hiểu những điều này, bạn sẽ hiểu vô thường, khổ và vô ngã. Đây là đề mục dẫn thẳng đến Niết-bàn. Dạy và huấn luyện con người để họ hiểu, thật sự rất khó. Có người giữ chặt quan điểm của mình. Bạn nói gì họ cũng bảo không. Dù bạn nói sự thật đến đâu, họ vẫn bảo không. “Tôi thấy cái đúng của tôi; anh thấy cái đúng của anh”. Không bao giờ có hồi kết. Dù điều đó làm họ khổ, họ vẫn không chịu buông. Chuyện có bốn người đàn ông vào rừng. Họ nghe tiếng gà gáy “ò ó o”. Một người đặt câu hỏi: “Ai nói đó là tiếng gà trống? Ai nói đó là gà mái?”. Ba người kia bàn với nhau rồi bảo đó là gà mái. Người còn lại nói đó là gà trống. Họ tranh cãi qua lại không dứt. Ba người nói là gà mái, chỉ một người nói là gà trống. “Làm sao gà mái gáy như vậy được?”, anh ta hỏi. “Nó có miệng, đúng không?”, họ đáp. Người kia cãi đến mức rơi nước mắt. Thật ra, theo quy ước thông thường, đó đúng là tiếng gà trống. Nhưng người kia phải cãi đến phát khóc vì quá bực. Thế nhưng, xét trên mức độ tối hậu, thì cả bốn người đều sai. Những từ “gà trống” và “gà mái” chỉ là quy ước. Nếu bạn hỏi con gà “Mày là gà trống hả?”, nó cũng chẳng trả lời. Nếu bạn hỏi “Mày là gà mái hả?”, nó cũng chẳng giải thích gì. Nhưng chúng ta có những quy ước của mình: đặc điểm này là của gà trống, đặc điểm kia là của gà mái. Tiếng gáy của gà trống thì như thế này; tiếng kêu của gà mái thì như thế kia. Tất cả chỉ là những quy ước bị mắc kẹt trong thế giới của chúng ta. Nhưng sự thật thì chẳng có gà trống, chẳng có gà mái. Nói theo quy ước thế gian thì người kia đúng, nhưng cãi cho đến rơi nước mắt thì chẳng có ích gì. Chỉ có vậy thôi. Vì thế Đức Phật dạy đừng bám víu vào các pháp. Nếu chúng ta không bám víu, vậy làm sao thực hành? Chính vì không bám víu mà ta thực hành. Đưa trí tuệ vào đây thật khó. Đây là lý do vì sao buông bỏ lại khó đến vậy. Bạn phải dùng trí tuệ sắc bén để quán chiếu điều này. Chỉ khi đó bạn mới tiến được.
Đức Phật dạy chúng ta rèn luyện bản thân, quán chiếu, hành thiền. “Thiền” nghĩa là tháo gỡ những vấn đề này một cách đúng đắn, theo đúng bản chất của chúng. Và bản chất của chúng là gì? Là vấn đề của sinh, già, bệnh, chết. Đây là những điều bình thường, rất đỗi bình thường. Vì vậy Ngài dạy chúng ta quán chiếu chúng liên tục. Ngài dạy chúng ta thiền quán về sinh, già, bệnh, chết. Có người không hiểu vì sao phải quán những điều này. “Sinh ư? Chúng ta đã biết mình sinh ra rồi mà”. Họ nói: “Chết ư? Chúng ta đã biết mình sẽ chết rồi”. Đó chính là vấn đề. Chúng là những điều quá đỗi bình thường và quá đúng. Một người quán chiếu những điều này hết lần này đến lần khác sẽ thấy rõ. Khi thấy rõ, bạn có thể dần tháo gỡ những vấn đề ấy. Dù bạn vẫn còn chút bám víu, nhưng nếu có trí tuệ để thấy rằng những điều này là bình thường, bạn sẽ có thể giảm bớt khổ đau. Đây là lý do chúng ta thực hành: để tháo gỡ khổ đau. Những nguyên lý căn bản trong lời dạy của Đức Phật không nhiều: chỉ là vấn đề khổ sinh khởi và khổ diệt đi. Vì vậy chúng được gọi là những sự thật cao quý. Nếu bạn không biết chúng, bạn sẽ khổ. Nếu bạn tranh cãi vì ngã mạn và quan điểm, sẽ không bao giờ có hồi kết. Để tâm có thể giảm bớt khổ và được an ổn, bạn phải quán chiếu những gì đã xảy ra trong quá khứ, những gì đang có mặt trong hiện tại, và những gì sẽ đến trong tương lai. Những điều như sinh, già, bệnh, chết: bạn có thể làm gì để không lo lắng về chúng? Sẽ có chút lo lắng, nhưng nếu bạn học cách hiểu chúng đúng như bản chất của chúng, khổ sẽ dần giảm bớt, bởi vì bạn không còn giữ chặt nó trong tâm nữa. Ajahn Chah (1918-1992) là một vị cao tăng Phật giáo người Thái Lan, thuộc dòng tu khổ hạnh trong rừng của Thượng tọa bộ. Ngài là học trò của Ajahn Mun. Tỳ-kheo Thanissaro (Geoffrey DeGraff) là một tu sĩ người Mỹ theo truyền thống tu trong rừng của Thái Lan. Sư là một dịch giả, người viết năng nổ. Nhiều tác phẩm của Sư có thể được tìm thấy trên trang: www.accesstoinsight.org. Nguồn: Trưởng lão Thiền sư Ajahn Chah, Not for Sure: Two Dhamma Talks. Thanissaro Bhikkhu dịch từ Thái qua Anh. Link: http://www.accesstoinsight.org/lib/thai/chah/not_for_sure.html. (NSGN 365) Ajahn Chah - Diệu Liên Lý Thu Linh dịch
Bình luận
Gửi bình luận của bạn
|
Tin nhiều người đọc Danh bạ website Phật giáo Sự kiện - Hội thảo
Đăng ký bản tin |


