Chi tiết tin tức Bàn về trà đạo 19:38:00 - 08/05/2026
(PGNĐ) - Thiền vốn là tâm thể lặng sáng sẵn vậy nơi mỗi người, không khác. Nhưng khi truyền vào địa phương nào, các thiền sư tùy vào phong tục tập quán mà uyển chuyển để hướng dẫn, khai thị, vậy nên đặc điểm Thiền tông mỗi nước có khác.
Trong trà có đạo Điển hình, bên cạnh trực chỉ, Thiền tông Nhật Bản còn đi vào đời sống nghệ thuật của người dân xứ sở Phù Tang, như võ đạo, kiếm đạo, trà đạo... Cho thấy trà đạo có ra từ tính chất nghệ thuật trong văn hóa Thiền Nhật Bản. Tổ trà đạo Nhật Bản Thiền sư Minh Am Vinh Tây (Eisai, 1141-1215) là người khai sơn - trụ trì chùa Kiến Nhân, Kyoto, Nhật Bản. Sư là người đầu tiên mang hạt giống trà từ Trung Quốc về Nhật Bản. Sư chia hạt trà cho ngài Myonun (Minh Huệ) trồng và chăm sóc thành cây trà. Ngoài ra, Sư còn viết tác phẩm Khiết trà dưỡng sinh ký. Trong đó, Sư vừa giải thích sự liên quan của trà với văn hiến “Dưỡng sinh là thuốc hay” của nước Nhật, vừa nói đến hiệu năng của trà. Đây là lần đầu tiên người Nhật biết đến loại cây quý này cho nên Thiền sư Vinh Tây (Eisai) được tôn kính như vị “Tổ trà” ở Nhật Bản. Còn “Tổ trà đạo” là ngài Châu Quang, đệ tử của Thiền sư Nhất Hưu. Nguồn gốc trà đạo Từ câu chuyện Thiền Nhật Bản. Đệ tử của Thiền sư Nhất Hưu là Châu Quang có tật ngủ gật kinh niên, đến nỗi ở nơi công cộng vẫn thường có tư thái không nghiêm chỉnh, vì thế Sư rất khổ não. Cuối cùng đi hỏi thầy thuốc và được khuyên nên uống nhiều trà. Nghe theo lời chỉ dẫn, kết quả Sư không còn ngủ gật nữa. Nhân đây, Sư dần dần thích uống trà và cho rằng lúc uống trà cũng cần đầy đủ lễ tiết, thế là Sư sáng lập “trà đạo”, sau được tôn làm vị Tổ của trà đạo. Giai thoại khai thị trà đạo Khi sáng lập trà đạo, Thiền sư Nhất Hưu bèn hỏi Sư: - Châu Quang! Ông dùng tâm thái nào để uống trà? Châu Quang đáp: - Vì khỏe mạnh mà uống trà. Thế rồi Thiền sư Nhất Hưu đưa công án “Uống trà đi!” của Triệu Châu cho Sư và bảo: - Có học Tăng xin Thiền sư Triệu Châu dạy cho đại ý Phật pháp, Triệu Châu bảo “Uống trà đi!”. Đối với sự kiện này, ông có cách nhìn thế nào? Châu Quang lặng thinh. Tiếp đó Thiền sư Nhất Hưu sai thị giả mang đến một chén trà trao cho Sư. Ngay khi Châu Quang đưa tay bưng lấy chén trà, Thiền sư Nhất Hưu bèn hét một tiếng và đánh rơi chén trà trên tay Sư xuống đất, nhưng Châu Quang vẫn chẳng động mảy may. Qua một lúc, Châu Quang nói lời tạ từ Thiền sư Nhất Hưu và đứng lên đi về phía Huyền Quan (tên cái cổng). Thiền sư Nhất Hưu gọi: - Châu Quang! Châu Quang quay đầu thưa: - Đệ tử đây! Thiền sư Nhất Hưu hỏi: - Chén trà đã rơi xuống đất, ông lại có trà để uống chăng? Châu Quang hai tay làm như bưng chén nói: - Đệ tử vẫn đang uống trà. Thiền sư Nhất Hưu chẳng chịu thôi, hỏi tiếp: - Ông vừa rời ở đây để đi chỗ khác, làm sao nói vẫn đang uống trà? Châu Quang thành khẩn nói: - Đệ tử đến bên đó uống trà. Thiền sư Nhất Hưu lại hỏi: Ta vừa hỏi ông tâm đắc của việc uống trà, ông chỉ hiểu được bên này uống, bên kia uống, toàn không tâm đắc. Cái loại vô tâm uống trà này như thế nào? Châu Quang trầm tĩnh đáp: - Trà vô tâm, liễu xanh hoa thắm. Thiền sư Nhất Hưu rất vui, liền ấn khả cho Sư. Sư hoàn thành xong trà đạo, trở thành vị Tổ trà đạo. Dùng tâm thái nào uống trà, dụng tâm nào để uống? Nhằm trên trà thì dính tướng, dụng trên tâm thì kẹt tâm, chưa uống được trà đạo. Tiếp theo trao chén trà rồi thình lình hét và vụt đánh rơi, ngài Nhất Hưu dụng tâm lão bà tha thiết, dùng thủ thuật cho ngài Châu Quang bất ngờ quên tâm và cảnh, liền đó được uống trà. Cuối cùng từ bi đáo để, khơi rõ cho thấy: Ông chỉ lo hiểu bên này uống, bên kia uống, toàn không tâm đắc. Còn việc vô tâm mà biết uống trà thì thế nào? Châu Quang bừng ngộ: Trà vô tâm, nhưng liễu xanh hoa thắm, mới uống được trà đạo. Trong trà có đạo hay trong đạo có trà? - Trong đạo có trà Các thiền sư nói: Vô tận tạng trung vô nhất vật Hữu giang, hữu nguyệt, hữu lâu đài. Như trăng vẫn chỉ là mặt trăng trên trời cao, nhưng lại hay tùy vào mỗi dòng sông nhỏ to, sâu cạn... nơi nào ánh trăng cũng soi chiếu không hề vướng kẹt, đồng thời cũng chẳng có tác động hay ảnh hưởng gì đến mặt trăng trên trời kia. Cũng thế, thể đạo chân thật thênh thang chính ngay tâm thể mỗi người. Trong ấy xưa nay không một vật, nhưng tùy duyên hóa hiện muôn sự, muôn vật, tự tại không ngăn ngại. Các pháp từ tâm sinh. Mọi vật đều từ tâm này mà được hình thành, hóa hiện. Nếu từ tâm vọng động tạo tác mà thành nên thì bị muôn vật khuấy động, vô minh, phiền não, khổ đau. Nhưng từ tâm thể đại đạo, hay tự tại tùy duyên hóa hiện, hay sinh muôn pháp thì tất cả đều là diệu dụng từ tâm. Bởi do tâm này không động cho nên các pháp cũng vắng bặt. Tâm không, cảnh tịch, các pháp vẫn đang vận hành nhưng cũng vẫn đang vắng lặng, như như từ tâm thế ấy. Đây là diệu nghĩa mà Thiền sư Châu Quang, vị Tổ trà đạo đã trình lên “Trà vô tâm, liễu xanh hoa thắm” và được sư phụ rất vui, ấn khả. Vô tâm nhưng liễu xanh hoa thắm cho nên không rơi vào cơ lặng yên. Liễu xanh hoa thắm nhưng không rời trà vô tâm do đó không rơi vào phàm tình loạn động. Rời vô minh, rời loạn động, thẳng đó thể đại đạo hiện tiền, đầy đủ tất cả, không thiếu vắng gì. Cho thấy trong thể đạo chân thật kia có tất cả, có trăng, có nước và tất nhiên có cả trà. Cho nên nói trong đạo đã có trà. Nếu thế, có cần đợi đến uống trà mới có đạo hay không? - Trong trà có đạo Thể đạo chân thật nơi mỗi người trùm khắp pháp giới, không bị giới hạn hay ngưng trệ bởi bất cứ gì. Không phải cố định ở một vật gì hay ở một nơi nào đó; cũng chẳng phải ở nơi khắp pháp giới, mà chính là ngay tâm thể không động giác sáng nơi mỗi người. Bằng tâm thể này, hễ thấy, nghe, biết hay chạm đến đâu đều là rạng ngời đạo Bồ-đề giác sáng ấy. Và nếu sẵn bát trà đây để uống thì ngay uống trà cũng đang hiển hiện thể đạo sáng ngời thênh thang này, chứ không nhất thiết phải chờ bày trà ra để uống mới có đạo. Trong đạo đã có trà, trong trà không thiếu đạo. Vậy thì đợi uống trà mới có đạo, hay không uống trà vẫn có đạo? Nếu chưa qua khỏi thì không thể uống được trà đạo rồi. Không cần bày biện Nếu đợi uống trà mới có đạo thì đạo chỉ riêng có ở chỗ uống trà mà không có ở những nơi khác. Tại đây có, chỗ kia không là đạo có chỗ nơi, là thuộc bên ngoài; đồng thời, như thế là đạo có giới hạn của ngằn mé, bị ngăn trệ bởi ở chỗ uống trà và không uống trà, do đó chưa phải thể đạo chân thật tự tại thênh thang trùm khắp. Nhưng nếu khắp tất cả chỗ, nơi nơi đều sẵn đạo này rồi thì đâu cần phải bày ra uống trà mới có đạo? Thực tế, thể của đại đạo là nơi nơi sáng sạch không ngăn ngại. Thể ấy vốn tự sẵn vậy, sáng rỡ, không động. Ở bất cứ đâu, đối diện với bất cứ gì (nơi nơi), thể đạo vẫn giác sáng, không một vết mê (sáng), không chút động niệm, bợn nhơ (sạch) và không có gì làm cho chướng ngăn được (không ngăn ngại). Ở bất cứ đâu có nghĩa là không tâm phân biệt chọn lựa kia đây, đối diện bất cứ gì có nghĩa không phải có ý định trước là phải thi thiết trà ra mới có đạo. Bởi còn trong ý thức phân biệt suy tính của cố định hay bày biện tạo tác là đã mất đi bản chất sáng sạch không ngăn ngại của thể đạo chân thật rồi. Trà đạo ở đây là vì tọa thiền ngủ gục như ngài Châu Quang, hoặc nhơn một nhân duyên gì đó có uống trà, như buổi lễ Phổ trà... thì sẵn khi uống trà, chúng ta phải thanh tịnh, trang nghiêm, tỉnh giác, không được buông lung để hợp với đạo vị; chứ không phải bày biện rườm rà, đợi uống trà mới có đạo. Trà đạo tại Việt Nam Trà ở Việt Nam rất nhiều và phong phú, nhiều chủng loại. Đạo thì khi nào cũng luôn sẵn đủ nơi nguồn tâm mỗi người, không nơi nào thiếu vắng. Khéo sống thì uống trà, ngắm hoa hay làm tất cả việc, đều không khác. Chúng ta có thể cảm nhận tinh thần này qua bài thơ Cúc hoa số 5 của Tam Tổ Huyền Quang: Người ở trên lầu, hoa dưới sân, Đốt hương ngồi ngắm bỗng quên ưu. Hồn nhiên người với hoa vô biệt, Một đóa hoa vừa mới nở tung. Khi tâm vắng bặt (bỗng quên ưu) thì thấy biết vượt năng và sở, không còn phân biệt kia đây, tâm cảnh tự như như (hồn nhiên người với hoa vô biệt). Ngay đó, thể đạo chân thật nơi chúng ta đang lặng sáng rạng ngời, mỗi mỗi rõ ràng, suốt thông tất cả (một đóa hoa vừa mới nở tung). Đó là Tổ Huyền Quang khéo vạch bày cho tất cả thấy, đạo đã sẵn đủ nơi mỗi người, bàng bạc khắp muôn nơi. Các thiền sư ngộ đạo nói ra luôn nhất quán, lô-gic như là đang gặp mặt, sống chung và rất thấu hiểu về nhau, mặc dù quý ngài không sống cùng thời. Tam Tổ Huyền Quang nói: “Hồn nhiên người với hoa vô biệt”, chính là chỗ ngài Châu Quang trình lên thầy mình: “Trà vô tâm”. Tổ Huyền Quang nói: “Một đóa hoa vừa mới nở tung”, cũng là chỗ ngài Châu Quang thưa: “Liễu xanh hoa thắm”. Sinh không cùng thời, sống không gặp nhau, nhưng nói ra như thể xưa nay chưa từng ngăn cách. Đó là việc thấy nhau của người sống về bằng thể của đại đạo chân thật. Gọi là chân thật bởi xưa nay không có cái khác, ai về trong đó thì liền thấy nhau. Không bị không gian địa lý của Nhật Bản và Việt Nam, hay bị thời gian của năm trước và thế kỷ sau khiến ngăn cách được. Ở Việt Nam đã có trà, người Việt Nam vốn sẵn thể đạo chân thật. Do đó, tại Việt Nam không thiếu trà đạo. Đâu nhất thiết lúc nào nói đến trà đạo cũng phải là ở Nhật Bản? Cho thấy, trà đạo không phải chỉ có ở Nhật Bản hay cố định ở một nơi nào đó mà nó ở ngay chỗ mỗi người biết sống bằng tâm chân thật rốt ráo nơi chính mình. Tóm lại Có sáng ra giai thoại của Thiền sư Nhất Hưu khai thị ngài Châu Quang (vị Tổ trà đạo) thì mới có thể uống được loại “trà vô tâm liễu xanh hoa thắm”. Nếu có tâm, tác ý, bày ra cách thức hình tướng để uống thì chưa qua được lời Thiền sư Nhất Hưu chỉ điểm: “Ông chỉ hiểu được bên này uống, bên kia uống, toàn không tâm đắc”. Một ngụm trà này, xưa nay làm sao uống? Nếu dùng miệng để uống trà thì đã trật đổ ra ngoài lênh láng rồi, không hớp được giọt nào cả. Vậy cuối cùng làm sao để uống được trà đạo? Nếu đã sáng ra, suốt thông rồi thì khắp nơi đầy trà nước. Bày thêm nữa, để vào đâu? Nếu chưa thể như thế thì vẫn còn như cũ, bụng đói, miệng khô. Bởi hàng ngày dù có uống mà sự thực thì chưa thể hớp được ngụm nào. Tết đến xuân về, trà mứt luôn bày sẵn ra đó, chưa từng thiếu vắng hay che dấu ai cả. Nhưng để ăn được mứt có thiền, uống được trà có đạo thì phải khéo để mắt. Vậy hiện nay làm sao uống trà, ăn mứt? Mứt đang ngon ngọt, trà khói ngát hương đến dư thừa ra đó mà bụng thì đói khát vẫn hoàn đói khát, chưa ăn uống được chút nào. Thật đáng tiếc, vô lý, lạ lùng làm sao! Có uống ăn được thì cũng mới chỉ là người giỏi uống, khéo ăn. Hãy nói, hiện nay đây, ai là người hay đãi mứt thết trà để mời mọi người cùng dùng được? TT.Thích Tâm Hạnh
Bình luận
Gửi bình luận của bạn
|
Tin nhiều người đọc Danh bạ website Phật giáo Sự kiện - Hội thảo
Đăng ký bản tin |


