Chi tiết tin tức Số liệu thống kê Tăng Ni: Từ báo cáo đến thực tế và số biến động 18:31:00 - 27/03/2026
(PGNĐ) - Liên quan số liệu tín đồ các tôn giáo được Nhà nước công bố qua Tổng điều tra dân số toàn quốc gần đây nhất, vào năm 2019, gây xôn xao dư luận vì số lượng tín đồ Phật giáo lần đầu tiên trong lịch sử không phải nhiều nhất so với các tôn giáo hợp pháp tại Việt Nam.
Nhiều ý kiến phản biện cho biết con số trên là không chính xác so với số tín đồ Phật giáo trong thực tế đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta. Nguyên nhân được đề cập thì nhiều, nhưng chủ yếu do thái độ ngại kê khai phần tôn giáo trong lý lịch, không thống nhất giữa nội hàm khái niệm “Phật tử” – người đã thọ Tam quy, 5 giới với “tín đồ” – người được hiểu là có tín ngưỡng đạo Phật. Tổng điều tra dân số năm 2019 được đánh giá là lớn nhất, công phu và chính xác nhất từ trước đến nay về quy mô lẫn phương pháp thực hiện. 10 năm sẽ có một đợt tổng điều tra dân số nhằm có dữ liệu để hoạch định chiến lược phát triển, xây dựng chính sách cụ thể tác động đến quốc gia và từng người dân. Vấn đề này đã từng được nêu ra, tạm thời hiện nay có (hơn) hai số liệu về số lượng “người theo Phật giáo” tại nước ta, một từ Cục Thống kê Việt Nam phổ biến trong “Thông cáo báo chí Kết quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019”, còn lại là của Ban Tôn giáo Chính phủ, Giáo hội Phật giáo Việt Nam… Số liệu Tăng Ni được công bố chính thức trong các báo cáo của Giáo hội Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập ngày 7-11-1981, đến nay đã gần 45 năm phát triển. Từ Hội đồng Chứng minh gồm 50 vị Trưởng lão, Hội đồng Trị sự chỉ có 50 thành viên tiêu biểu của các tổ chức, hệ phái, truyền thống Phật giáo tham gia Hội nghị Thống nhất Phật giáo Việt Nam, với 6 Ban ngành thiết yếu trực thuộc Hội đồng Trị sự, đến năm 2015, Giáo hội đã có mặt, thành lập hoàn thiện hệ thống hành chính ở 63/63 tỉnh, thành phố trên cả nước. Hệ thống hành chính Giáo hội kiện toàn từ Trung ương xuống tỉnh thành, đến quận, huyện, thị xã. Song song đó, Hội đồng Trị sự cũng có 13 Ban, Viện; không kể Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, còn lại địa phương cũng tương ứng các Ban ngành chuyên môn như vậy.
Nói như thế để thấy hệ thống hành chính của Giáo hội được phát triển, xây dựng hoàn thiện cách đây đã 11 năm, vận hành cho đến ngày 1-7-2025 vừa rồi mới có sự thay đổi, tạm dừng hoạt động Giáo hội cấp quận, huyện, thị xã và sáp nhập địa giới hành chính còn 34 tỉnh, thành phố theo cuộc cải cách của Nhà nước. Còn số lượng Tăng Ni, tự viện tăng trưởng ra sao? Báo cáo năm 2010, cả nước có 44.498 Tăng Ni, 14.777 cơ sở tự viện; năm 2011, số lượng Tăng Ni được công bố là 46.459, tự viện có 14.778 cơ sở, tăng 1 ngôi so với năm trước. Số liệu này cũng có thay đổi nhưng không đáng kể các năm sau đó. Đến Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VIII (2017), cả nước có 53.941 Tăng Ni, 18.466 tự viện. Số liệu này có thay đổi nhưng không đáng kể trong báo cáo thống kê những năm tiếp theo. Đến năm 2022, báo cáo của Giáo hội cho biết số lượng Tăng Ni và tự viện có tăng, tức cả nước có 54.973 Tăng Ni và 18.544 cơ sở tự viện. Nếu làm sự so sánh, số Tăng Ni của năm 2022 so với năm 2017 tăng 1032 vị; chùa chiền thì tăng 78 cơ sở. Trong khi đó, chúng ta thử làm một phép thống kê việc công nhận số lượng Tăng Ni mới thể hiện qua một trong những sự kiện đặc thù là Đại giới đàn do Giáo hội cho phép tổ chức, thì sẽ như thế nào? Tính từ Đại giới đàn Hà Nội (tháng 3-2017) đến Đại giới đàn Như Sơn (tháng 6-2026, Nam Định), có 94 Đại giới đàn thuộc Giáo hội ở các tỉnh, thành phố được phép tổ chức, thống kê chưa đầy đủ đã có thêm 34.216 Tăng Ni được công nhận qua việc truyền trao giới pháp xuất gia. Năm ít nhất, cũng có 5 Đại giới đàn (2021), và năm nhiều có khi lên tới 17 Đại giới đàn (2022), trong đó có Đại giới đàn có số lượng giới tử lên tới 3.264 vị được truyền giới pháp xuất gia (Đại giới đàn Thiện Hoa, Đồng Nai, 2022). Theo đó, nếu chỉ tính từ năm 2017 đến năm 2022, cả nước có 88.157 Tăng Ni. Đây quả là một vấn đề rất đáng quan tâm. Cần có một sự thống kê định kỳ, cập nhật số biến động, chuyển vùng sinh hoạt tôn giáo Việc quản lý Tăng Ni là chức năng thuộc về Tăng sự, một trong những ban ngành thiết yếu và quan trọng được Giáo hội đặt lên hàng đầu từ ngày thành lập cho đến nay. Giai đoạn đầu, Tăng sự do một vị giáo phẩm Bắc tông am tường giới luật và uy tín đứng đầu; sau đó, với tầm quan trọng và đặc thù, Chủ tịch Hội đồng Trị sự kiêm nhiệm Trưởng ban Tăng sự Trung ương, đồng nghĩa ở địa phương Trưởng ban Trị sự (tỉnh, thành phố; quận, huyện, thị xã) kiêm trưởng ngành này. Lẽ ra với hệ thống hành chính, tầm quan trọng của ngành Tăng sự, trực tiếp quản lý thành viên xuất gia thuộc hàng giáo phẩm và đại chúng (Hòa thượng, Thượng tọa; Ni trưởng và Ni sư; Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni; Sa-di, Sa-di-ni; Thức-xoa-ma-na và Tu nữ Hệ phái Nam tông), việc thống kê cập nhật sẽ là không quá phức tạp và không quá khó. Tuy nhiên, thực tế thì không phải như vậy. Nguyên nhân do đâu, điều này chỉ chờ câu trả lời từ Ban Tăng sự Trung ương. Thử đặt một vấn đề: Nếu con số thống kê của Giáo hội là chính xác, được cập nhật từ các địa phương thì số lượng Tăng Ni từ năm 2010 đến nay phải tăng rất lớn, cộng dồn cơ học theo số liệu từ các Đại giới đàn thống kê vẫn chưa đầy đủ, đã có con số vượt rất xa, 78.714! Người xưa nói việc nuôi người xuất gia thành tựu, dạy dỗ và đào tạo đúng tinh thần nhà chùa được ví như hiện tượng “bông xoài, trứng cá”. Nghĩa là người phát tâm, vào chùa thì nhiều, nhưng sống được với nếp sống người tu (Tăng Ni) thì còn không mấy người, như hoa xoài rộ cả cây nhưng kết trái thì không nhiều; cá con hình thành rất ít so với trứng cá mẹ sinh ra… Đó là chưa đề cập tới các hiện tượng gia nhập Tăng đoàn với nhiều nhân duyên khác. Trong bài trước trên mục Điểm nhìn của báo Giác Ngộ số 1343, tác giả Diệu Nghiêm cũng đã đề cập tới nguyên nhân xả giới rất dễ dàng của Tăng Ni, nhưng việc quản lý Tăng Ni chắc chắn không thể vì thế mà không thể kiểm soát được. Một chi tiết trong hiện tượng thị phi trên mạng xã hội đang diễn ra liên quan một người nguyên là tu sĩ Phật giáo đã xả giới. Vị này vừa lên tiếng cho biết đã xả giới, đồng thời cũng cho biết đã có Tăng tịch (Giấy chứng nhận Tăng Ni, do Chủ tịch Hội đồng Trị sự kiêm Trưởng ban Tăng sự ký, đóng dấu) cùng các giấy tờ liên quan tới tư cách tu sĩ thành viên khác của Giáo hội. Vị này chỉ nói đã xả giới, mà không cho biết Tăng tịch đã được trả, Giáo hội thu hồi hay chưa. Có những trường hợp không thu hồi, với điều kiện xuất gia, việc cá nhân tái sử dụng (phi pháp) các giấy tờ chứng nhận Tăng Ni cho mục đích khác là điều đã từng xảy ra, để lại hậu quả đáng tiếc. Với con số từ các báo cáo của Giáo hội và con số thống kê (chưa đầy đủ, đặc biệt là chưa bao gồm chư Tăng Phật giáo Nam tông Khmer) từ các Đại giới đàn, chỉ riêng số liệu về Tăng Ni mà chưa đề cập tới tự viện, chúng ta có sự chênh lệch không hề nhỏ. Nếu sự chênh lệch này là dao động số Tăng Ni và hoàn tục hay vì lý do khác, thì cần xác định nguyên nhân biến động. Dữ liệu này rất quan trọng để tham khảo, làm căn cứ điều chỉnh định hướng trong các trường Phật học, phương thức đào tạo trong các cơ sở tự viện, truyền thống, hệ phái thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Diệu Nghiêm - Nguyện Truyền
Bình luận
Gửi bình luận của bạn
|
Tin nhiều người đọc Danh bạ website Phật giáo Sự kiện - Hội thảo
Đăng ký bản tin |



